Để chắc chắn chiến dịch marketing thành công | |
| Hiền Trang (Theo ER) Nguoilanhdao | |
Khi bạn hiểu được thị trường, sản phẩm của bạn sẽ tự bán nó. Vậy thì, thị trường hay sản phẩm cần có trước? Nó khác với câu hỏi con gà có trước hay quả trứng có trước. Bạn cần hiểu rằng, đầu tiên, khi bạn tìm kiếm thị trường, bạn hoàn toàn có thể thay đổi quan điểm bán hàng, dù bạn có điều hành doanh nghiệp trong nhiều năm, hoặc trong thời suy thoái. Có quá nhiều doanh nghiệp bị ràng buộc trong cái mà họ lên kế hoạch để bán hàng trước khi nhận ra khách hàng của họ muốn mua gì. Trong nền kinh tế suy thoái hiện nay, điều đó có nghĩa là sự khác biệt giữa mất và còn của tương lai doanh nghiệp. Một lần nữa, các chủ doanh nghiệp, những người đầu tư kinh doanh trong nhiều năm nay để hoàn hảo sản phẩm/dịch vụ cần phải biết câu trả lời cho 3 câu hỏi quan trọng dưới đây: - Chính xác thì ai sẽ muốn mua sản phẩm này và tại sao? - Họ sẵn sàng trả bao nhiều tiền cho nó? - Khách hàng được lợi gì khi mua từ bạn thay vì đối thủ cạnh tranh? Xác định khách hàng lý tưởng Hãy tưởng tượng bạn đang bắt đầu với một sản phẩm mới. Bạn cần phải gạt sang một bên bất cứ khái niệm nào trong suy nghĩ về những cái mà sản phẩm/dịch vụ hiện tại của bạn cần phải có. Trong nền kinh tế hiện nay, khách hàng đang chú trong đến nhu cầu hơn cả mong muốn. Vì thế, hãy hỏi bản thân: Loại sản phẩm/dịch vụ nào thực sự cần thiết hiện nay? Nó có thể là bất cứ thứ gì, từ một chiếc máy thiết bị cho tới dịch vụ cá nhân. Khách hàng lý tưởng biết được cô ta cần gì – hoặc ít nhất cô ta biết nó khi cô ta nhìn thấy nó – vì thế, bạn phải tạo ra được sản phẩm/dịch vụ theo đó. Kế tiếp, cần quyết định xem nhóm khách hàng nào đã chứng minh được sự sãn sàng trả tiền cho nhu cầu này. Đừng quay trong vòng quay phát triển một sản phẩm/dịch vụ trước khi bạn biết được thị trường mục tiêu. Tốt hơn hết là tìm kiếm thị trường sản phẩm chứ không nên có sản phẩm rồi mới tìm thị trường ngách. Đặt giá Giả sử rằng năm ngoái bạn đã dành khá nhiều tiền để phát triển một sản phẩm mà nó là nhu cầu cần thiết trong thị trường mục tiêu. Bạn sẵn sàng đưa ra sản phẩm mới ra thị trường nhưng nó có giá 6 đô la trong khi các thị trường tương tự khác chỉ bán với 2 đô la. Phải thừa nhận là sản phẩm của bạn có cái gì đó mà những người khác hoặc khách hàng biết là họ cần cái mới, tiện ích này. Vậy bạn nên làm gì? Cách đây vài năm, bạn có thể tung ra một chiến dịch quảng cáo đằng sau sản phẩm mới này và có được ngay lợi nhuận từ những khách hàng “đầy túi”, người sẵn sang trả nhiều hơn cho bất cứ yếu tố thuận tiện nào. Thế nhưng, ngày nay, việc thông minh của bạn là phải tìm cách để giới thiệu sản phẩm tuyệt vời đó ở gần với mức giá của các sản phẩm tương tự khác. Khi đó, sau khi thị trường đã làm quen được với sản phẩm mới, thì bạn có thể từ từ tăng giá, nhưng cũng không nên tăng cao gấp 3, 4 lần đối thủ cạnh tranh. Điều cuối cùng bạn cần nhớ là đừng bao giờ bước vào thị trường nếu bạn không biết bạn có thể giới thiệu và bán sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng nào. Nhân tố trong sự tín nhiệm Đây là nơi sự thực được nhấn mạnh. Một sự thật khó khăn là sản phẩm/dịch vụ mà bạn đưa ra có thể không đủ ấn tượng để hấp dẫn khách hàng. Khi túi tiền bó hẹp thì khách hàng sẽ mua hàng với sự xem xét tỉ mỉ, kỹ lưỡng hơn. Một phần để đưa sản phẩm/dịch vụ tới được những khách hàng sẵn lòng nhất đó chính là nhân tố thời gian, khả năng và tiền bạc mà chúng có thể xây dựng được niềm tin đối với khách hàng để mua sản phẩm của bạn thay vì đối thủ cạnh tranh. Điều đó có nghĩa là phát triển một kế hoạch quảng cáo, một websie giàu nội dung và một chiến lược marketing trực tuyến gồm cả PR và mạng xã hội là phương pháp hữu hiệu nhất. Vài nét về tác giả: Kim T. Gordon là tác giả của 4 cuốn sách về marketing ở Entrepreneur.co. B, là một chuyên gia tiếp thị lĩnh vực, là người phát ngôn, nhà báo. Hơn 30 năm qua, bà đã giúp hàng triệu doanh nghiệp lớn, nhỏ thành công. Nguồn: Nguoilanhdao | |
Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009
Để chắc chắn chiến dịch marketing thành công
Thứ Năm, 27 tháng 8, 2009
Sự nguy hiểm của thói ngạo mạn
Sự nguy hiểm của thói ngạo mạn | |
| Tuấn Anh (Theo Forbes) Nguoilanhdao | |
Nhiều lãnh đạo thường sa vào vũng lầy trong việc có cái nhìn phiến diện về khả năng của mình và họ luôn phải đối diện với nguy hiểm lớn khi coi thường những nguy cơ rõ ràng trong các tình huống đó. Theo sử thi Iliad thì Ajax the Lesser là một chiến binh có vóc người nhỏ con, nhanh nhẹn và sử dụng giáo rất giỏi. Anh đã tham gia trận chiến nổi tiếng ở thành Troy (trận Trojan War) và lập nhiều chiến công. Khi cuộc chiến kết thúc, Ajax đã tới đền thờ nữ thần Athena và cưỡng đoạt công chúa Cassandra, con gái của quốc vương Priam. Kenneth Lay bị kết án 45 năm tù Ngoài những lời tự đánh bóng về khả năng quản lý, Enron được quảng cáo rất hiệu quả qua công ty kiểm toán Arthur Andersen và các nhà phân tích phố Wall, nhờ vậy số người mua cổ phiếu của công ty cao kỷ lục. Đến khi công ty tuyên bố phá sản với số nợ 31,2 tỷ USD, nhiều nhà đầu tư mới ôm mặt than khổ. Một ví dụ khác là: Long-Term Capital Management (LTCM) là một quỹ chống rủi ro lớn của Mỹ, được thành lập năm 1994. Quỹ này là một quỹ tự bảo hiểm đi tiên phong về sử dụng kĩ thuật quản lý rủi ro dựa trên cơ sở lý thuyết thị trường hiệu quả. Người sáng lập và điều hành Quỹ này là John Meriwether, chuyên gia đầu tư về trái phiếu nổi tiếng. Trong đội ngũ thành viên chủ chốt của LTCM còn có nhiều nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel. Thành công đến với LTCM thời gian đầu là điều không có gì ngạc nhiên, nhưng cuối cùng vì quá tự phụ với tài năng của mình mà những nhà lãnh đạo của LTCM đã 'góp công' đưa Quỹ này đến với vực sâu phá sản năm 2000. John Meriwether nghĩ rằng phương pháp siêu việt để kinh doanh chứng khoán là phương pháp toán học. Vì thế, ông tuyển vào LTCM nhiều chuyên gia nổi tiếng đã thành công về toán tài chính. Trong số những chuyên gia đó có những đồng nghiệp cũ khi ông còn làm thuê cho ngân hàng Salomon Brothers, David Mullins, cựu phó chủ tịch cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), Robert Merton, giáo sư đại học Harvard, Myron Scholes, giáo sư Đại học Standford,… Năm 1997 hai vị giáo sư Merton và Sholes được giải Nobel Kinh tế. LTCM khởi đầu với vốn 1,25 tỷ USD, trở thành quỹ phòng vệ lớn nhất và linh động nhất thế giới vào thời đó. Sau khi trừ tiền hoa hồng, tỉ suất lợi nhuận của cổ đông là 42,8% năm 1995, 40,8% năm 1996 và 17,4% năm 1997. Đầu năm 1998, vốn của LTCM là 4,8 tỷ USD với khả năng vay 200 tỷ và tình hình tài khoản những sản phẩm thứ cấp hơn 1.200 tỷ USD. Với những thành tích như vậy, lãnh đạo LTCM mỗi ngày mỗi phiêu lưu hơn. Họ kiêu căng đến nỗi đề nghị trả lại tiền vốn những ai muốn hỏi chi tiết về chính sách đầu tư của họ. Sau khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997, tỉ lệ chiết khấu các trái phiếu tăng làm cho lãi của LTCM giảm. Nhưng lãnh đạo LTCM vẫn dự đoán tình hình sẽ mau chóng trở lại như xưa. Họ bán trái phiếu với vị thế mở (open position), bỏ qua việc mua hợp đồng ngoại tệ kỳ hạn để bảo hiểm rủi ro khi tỉ giá thay đổi trên thị trường Mỹ để mua ở thị trường Nga. Ngày 17.8.1998, thủ tướng Nga Sergueï Kirienko tuyên bố gia hạn nợ của Liên bang Nga và phá giá đồng rúp. Ngay lập tức các nhà đầu tư quốc tế rút tiền từ Nga để đầu tư vào Mỹ. LTCM phải bán tháo trái phiếu Nga để thanh toán những hợp đồng trên thị trường Mỹ. Do không có biện pháp chống rủi ro tỉ giá, trong tháng tám họ lỗ 1,7 tỷ USD rồi lỗ thêm một tỷ nữa trong ba tuần đầu tháng 9.1998. Ngày 18.9.1998, khi tin đồn khả năng phá sản bắt đầu lan tràn, vốn của LTCM tụt từ 4,8 tỷ USD xuống còn 1,5 tỉ USD và chính thức phá sản năm 2000. Herbert London nhìn nhận thấy nhiều lãnh đạo có thể thường sa vào vũng lầy của việc có cái nhìn phiến diện về khả năng của họ. Họ luôn phải đối diện với hiểm nguy lớn lao khi coi thường những nguy cơ rõ ràng trong các tình huống đó. Mark Button đến từ đại học Utah cũng thấy rằng nhiều nhà lãnh đạo bỏ ngoài tai những lời khuyên chân thành về sự tự phụ tài cao của họ. Việc né tránh những buổi thảo luận và lắng nghe một cách tích cực đã dẫn dắt họ đi tới thất bại nhanh hơn bao giờ hết. Hơn nữa, cũng cần nhận ra sự khác biệt giữa một con bạc và một chủ doanh nghiệp. Khi con bạc vỡ nợ, chỉ mình anh ta bị tổn thất. Còn với chúng ta, những nhà lãnh đạo, thói kiêu căng, ngạo mạn của chúng ta có thể đẩy nhiều người khác vào cảnh bĩ cực giống như những ví dụ về Kenneth Lay ở Enron hay John Meriwether với Long-Term Capital Management. Chúng ta cần xem xét lại bản thân thường xuyên, giống như những người Hy Lạp cổ đại, đừng để thói kiêu căng tự phụ trở thành một tai họa làm hại chính chúng ta và vô khối người khác có liên quan. Nguồn: Nguoilanhdao | |
Thứ Tư, 26 tháng 8, 2009
Những kỹ năng vàng cho nghề sales
Những kỹ năng vàng cho nghề sales | |
| Saga | |
Khi tuyển người vào vị trí nhân viên sales (nhân viên kinh doanh), hay cao hơn là quản lý sales, nhà tuyển dụng cần ở ứng viên những kỹ năng gì? Dưới đây là những kỹ năng vàng mà các nhà tuyển dụng hàng đầu mong muốn ở người làm sales: Khả năng giao tiếp và đàm phán tốt Là những tố chất không thể thiếu của một nhân viên sales giỏi. Bằng khả năng giao tiếp, thuyết phục và đàm phán của mình, bạn có thể tạo dựng nên các mối quan hệ tốt với những khách hành tiềm năng hay các đối tác kinh doanh, các đại lý kinh doanh… Khả năng giao tiếp này được thể hiện ở việc bạn có thể giao tiếp tốt thông qua nhiều hình thức như gặp mặt trực tiếp, email, thư tay hay điện thoại. Một khi đã tạo dựng được mối quan hệ tốt với khách hàng thì bạn đã đạt được 80% cơ hội thành công. Bởi vậy, bạn hãy trau dồi trả năng giao tiếp, thuyết trình của mình ngay từ bây giờ bằng cách tập nói nhiều hơn với bạn bè, gia đình, đồng nghiệp hay tham gia một khóa học giao tiếp bài bản. Linh hoạt, nhạy bén Để nắm bắt nhu cầu của khách hàng nhằm đáng ứng đúng cái mà họ đang cần. Năng động để hiểu tâm lý, khéo léo hướng khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình. Công đoạn từ tìm kiếm khách hàng đến việc khách hàng lựa chọn sản phẩm trải qua rất nhiều giai đoạn và khâu chuẩn bị. Vì vậy, bạn phải luôn bám sát tâm lý của khách hàng để có thể phục vụ họ kịp thời. Phải có kiến thức chuyên sâu về sản phẩm mình bán Để “đụng đâu biết đấy” chứ không ú ớ, quên quên nhớ nhớ kiểu “Hình như sản phẩm này có công dụng là…” khi khách hàng thắc mắc. Phải làm cho sản phẩm của mình được đối tượng thấy nhiều ưu điểm so với các sản phẩm cùng loại khác. Đây là một yếu tố rất quan trọng vì chỉ khi bạn hiểu bạn đang bán cái gì thi bạn mới bán được nó. Có vốn hiểu biết sâu rộng Người làm sales không nên chỉ là một nhân viên kinh doanh thuần túy vì họ cần có khả năng tư vấn cho khách hàng, họ phải biết cách nói như thế nào để tăng khả năng thuyết phục người nghe. Vì vậy, họ cần phải có kiến thức về kinh tế, văn hóa, xã hội và cả nghệ thuật nữa để có thể nói chuyện được với nhiều người với những sở thích, mối quan tâm khác nhau. Chính vì vậy, có thể nói rằng, nghề sales như một công việc đi kết bạn, đi chia sẻ những điều tốt nhất cho khách hàng của mình. Nhân viên sales thường xuyên chịu áp lực về doanh số và từ phía khách hàng Một thực tế đầy thách thức đối với nhân viên sales là họ phải chứng tỏ được khả năng của mình thông qua kết quả kinh doanh đạt được. Vì vậy nghề sales đòi hỏi nhân viên phải có khả năng chịu đựng áp lực cao và tinh thần thép để vượt qua những thách thức đó. Họ còn phải linh hoạt để thích nghi với nhiều thay đổi và tìm ra giải pháp thích hợp cho từng vấn đề. Nhân viên sales là người có bản lĩnh cao Họ luôn phải đối đầu với những cái lắc đầu, những lời từ chối và đôi khi là thái độ thiếu thiện cảm. Để có thể có được một lần khách hàng đồng ý thì họ phải mất 10, 20 hoặc có thể nhiều hơn nữa những lần chào hàng. Nếu bạn là người mới vào nghề thì thật khó khăn cho bạn khi phải đương đầu với những lời từ chối ấy. Tuy nhiên, salesman chuyên nghiệp là người kiên trì, đôi khi là lì lợm và có bản lĩnh cao nên họ có thể vượt qua những sự từ chối đó. Bạn hãy đếm những lần khách hàng gật đầu với bạn, còn những lần từ chối thì hãy quên nhanh đi và coi rằng đó là những trở ngại mình cần phải vượt qua để đạt được sự thành công lớn hơn. Luôn giữ nụ cười trên môi và bề ngoài chỉn chu Bạn luôn cởi mở, tươi cười thì khách hàng tiềm năng của bạn mới có hứng thú nói chuyện với bạn chứ chưa phải nói đến chuyện họ đồng ý mua hay hợp tác với bạn thì còn đòi hỏi cao hơn. Vẻ bề ngoài gọn gàng, gương mặt sáng sủa, đầu tóc gọn gàng, quần áo hợp thời, lịch sự vừa giúp người làm sales tự tin hơn vừa cho khách hàng thấy vẻ chuyên nghiệp, lịch sự của họ. * Khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Trên đây là những điều kiện chung cho nghề sales. Nếu bạn muốn đạt được đến vị trí quản lý sales (giám sát bán hàng, trưởng phòng kinh doanh, giám đốc kinh doanh) thì không những phải hoàn thiện các điều kiện trên kia mà các bạn còn cần phải có khả năng quản lý, phối hợp các nhân viên sales. Nguồn: Saga | |
Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009
4 lầm tưởng về tiếp thị ảnh hưởng xấu đến kinh doanh
4 lầm tưởng về tiếp thị ảnh hưởng xấu đến kinh doanh | |
| Hiền Trang (Theo BH) Nguoilanhdao | |
| Nếu những quyết định marketing của bạn dựa vào 4 suy nghĩ tiếp thị dưới đây, bạn có thể sẽ bị giảm lợi nhuận trong kinh doanh. Lầm tưởng 1: Mọi người luôn luôn mua ở nơi giá rẻ nhất Nguồn: Nguoilanhdao | |
Giải trình hoạt động markting: Sáu “đòn bẩy giá trị” cần đạt được
Giải trình hoạt động markting: Sáu “đòn bẩy giá trị” cần đạt được | |
| Thúy Hương (Theo marketingprofs.com), Công ty thương hiệu LANTABRAND Lantabrand | |
Quản trị viên cao cấp liên tục đòi hỏi các marketer phải chứng minh được sự đền đáp xứng đáng từ các khoản đầu tư, cung cấp chứng cớ và nhiều sự giải trình hơn để chứng minh sự đầu tư cho marketing đang tạo ra sự phát triển cho công việc kinh doanh.
Gọi được gọi là giải trình hoạt động marketing, một mục tiêu cần sáu “đòn bẩy giá trị” Chiến lược Đòn bẩy then chốt này bao gồm một loạt các lựa chọn, chuyền tải toàn bộ thông tin về các hoạt động xuyên suốt các đòn bẩy khác. Nó bao gồm một loạt các quyết định lựa chọn marketing chiến lược. * Công ty của bạn có cơ hội kinh doanh tốt nhất với những nhóm khách hàng nào? Để đưa ra câu trả lời thông minh cho những câu hỏi trên đòi hỏi phải có một nền tảng kiến thức dựa trên thực tế, bao gồm phân khúc và khách hàng, phân tích khách hàng, xây dựng mô hình tài sản thương hiệu và hoạt động mua bán. Nội Dung Nền tảng chiến lược phải được thể hiện bên trong những ý tưởng thông điệp hấp dẫn và lôi cuốn. Tiền đề tốt nhất dành cho nội dung bắt nguồn từ sự kết hợp kỳ diệu giữa sự am hiểu thấu đáo và lối thể hiện sáng tạo, tất cả được kết nối với nhau theo những cách đáng tin cậy và hấp dẫn. Hầu hết mọi công ty đều dựa vào các đại lý thành viên bên ngoài. Đây là một mối quan hệ hợp tác có thể truyền cảm hứng tuyệt vời cho công việc, những ý tưởng cho nội dung có thể bắt đầu từ bất cứ đâu – các đại lý, các thành viên nội bộ - tất cả những người này theo đuổi những ý tưởng của riêng mình và có phần cạnh tranh - hoặc có thể là một cộng tác viên đơn lẻ, người có thể tìm thấy ý tưởng trong một cuộc dạo chơi hoặc trong một nhà tắm. Nguồn lực ở bất cứ đâu, những công ty thông minh chỉ cần xem lại các ý tưởng thông điệp, kiểm tra tính thiết thực trước khi triển khai rộng khắp trong các chiến dịch lớn. Phương tiện marketing Những lựa chọn hiệu quả về phương diện công cụ truyền thông là những lựa chọn cho phép thông điệp của bạn thu hút khách hàng và kết nối với họ theo những phương thức đa dạng, phù hợp, đúng thời điểm đồng thời hiệu quả về mặt chi phí. Nhưng để đạt được điều đó, bạn phải hiểu, đâu là địa điểm khán giả sẽ tương tác với các phương tiện truyền thông, cũng như sự cởi mở của họ trong việc tiếp nhận thông điệp theo cách mà bạn đã sắp đặt. Bạn phải hiểu những đặc tính tối ưu của mỗi phương tiện truyền thông, cách thức cân bằng các yếu tố của chúng để tạo ra hiệu quả tốt nhất bao gồm cả hiệu quả về mặt kinh tế. Những lựa chọn sai có rất nguy hiểm. Bạn phải gánh rủi ro thất bại bởi sự kết hợp sai các phương tiện với mục tiêu marketing, khách hàng, hoặc mức độ bao phủ của thông tin không tương xứng. Điều này tương tự như những thất bại trong việc tạo ra sự hiệu quả về mặt kinh tế và lợi nhuận. Cuối cùng, tạo ra sự cân bằng giữa các phương tiện truyền thống và hiện đại mới là điều cần thiết. Các mức độ đầu tư Đòn bẩy này được thực hiện nhằm xác định toàn bộ các khoản đầu tư vào marketing có quá cao hay quá thấp hay không so với hiệu quả thực tế về mặt tài chính của những hoạt động marketing, tương quan với các mục tiêu marketing chiến lược đã được đề ra. Nhưng nó rất phức tạp. Hiệu quả của các chương trình marketing không ở dạng tĩnh tại. Những thay đổi trong mức độ nhận biết thương hiệu hay khả năng cạnh tranh có thể chi phối mức độ hiệu quả của chương trình. Thay đổi thói quen sử dụng và chi phí dành cho mỗi phương tiện truyền thông có thể cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của chúng. Kết quả mà hoạt động marketing mang lại thực sự rất khó nắm bắt. Cho dù gặp phải những thách thức, thì đòn bẩy này có những giá trị rất đáng để xem xét. Thể hiện trên thị trường Một nội dung tuyệt vời vẫn cần một cỗ máy phát tán tốt; sự tận tâm trong thực hiện sẽ đảm bảo các nội dung marketing và cỗ máy phát tán vận hành ăn khớp với nhau. Những quyết định mang tính chiến thuật tạo điều kiện cho một chiến dịch thành công và hiệu quả về mặt chi phí. Xây dựng kế hoạch đòi hỏi những lựa chọn về phạm vi, tần suất, mức độ bao phù về mặt địa lý. Lựa chọn kênh truyền thông thực sự là một quyết định khó khăn bởi sự biến động trong lãnh vực tuyền thông, bạn phải tìm hiểu uy tín của kênh truyền thông, danh tiếng và chi phí của nó đồng thời hiểu được những đặc điểm về nhân khẩu của nhóm khách hàng bạn muốn nhắm đến. Trải nghiệm của khách hàng phải phù hợp và liền mạch. Cảnh báo: Nếu bạn có sự thể hiện yếu kém trên thị trường, những sai sót của bạn có thể bị thổi phồng lên, và được bàn tán xôn xao trong cộng đồng thông qua những kênh truyền thông dựa trên web. Quản lý chi phí cố định Mục đích của đòn bẩy này nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi về mặt chi phí thông qua việc cắt giảm chi phí và chính sách ngăn chặn chi phí phát sinh. Chi phí cố định của bạn phụ thuộc vào các chương trình marketing của bạn và có thể chiếm tới 20 – 60% toàn bộ ngân sách marketing. Phần tiết kiệm được có thể được phân phối lại phân phối lại vào trong các chương trình từ đó nâng cao tính khả thi của toàn bộ chương trình. Đòn bẩy này đòi hỏi việc áp dụng hệ thống tư duy quản lý những hiệu quả đạt được. Một trong những cách để bắt đầu là hiểu tỉ lệ giữa “hiệu quả” và “không hiệu quả” của những khoản phí đã được sử dụng cho việc tạo ra các chương trình marketing. Nếu tỉ lệ này thấp, thử áp dụng có chọn lọc những nguyên tắc xác định nguyên nhân nhằm cắt giảm chi phí không cần thiết, đánh giá lại các chương trình chính, từ đó cho phép các chương trình có thể được thực hiện hiệu quả hơn về mặt chi phí hoặc có thể cần thiết phải thiết kế lại toàn bộ quy trình tới giảm chi phí mà không ảnh hưởng đến chất lượng chương trình. Giải trình hoạt động marketing là một mục tiêu có thể đạt được. Bằng việc tập trung và giải phóng sức mạnh của sáu đòn bẩy giá trị trên, marketing sẽ chứng minh được giá trị của nó như một nguồn lực cho sự tăng trưởng trong tương lai. Nguồn: Lantabrand | |
Đã đến lúc thức tỉnh và làm gì đó cho thương hiệu của bạn
Đã đến lúc thức tỉnh và làm gì đó cho thương hiệu của bạn | |
| Tommy Nguyễn (Theo "chiến lược khác biệt hóa để phát triển thương hiệu") Abviet.com | |
Nếu như bạn vẫn cho rằng những nguyên tắc xây dựng thương hiệu không thể ứng dụng trong doanh nghiệp nhỏ của mình, chúng tôi đề nghị bạn cần thay đổi triệt để quan điểm đó bởi vì nó sẽ không giúp cho thương hiệu của bạn đi lên. Lời tác giả "Sát thủ khác biệt hóa" Trong vòng 3 năm nay, chúng tôi đã trao đổi tại nhiều chuyên đề, hội thảo và diễn đàn xây dựng thương hiệu. Chúng tôi cũng từng tổ chức nhiều hội nghị về lĩnh vực này cho nhiều công ty Singapore. Một trong những nội dung mà chúng tôi thường nhắc đến là 10 nguyên tắc xây dựng thương hiệu mà tất cả các thương hiệu mạnh đều dựa vào đó để phát triển, bất kể đó là thương hiệu tầm cỡ trong nước, trong khu vực hay toàn cầu. Chúng tôi đã nhiều lần được hỏi rằng: có hay không những nguyên tắc riêng dành cho các doanh nghiệp nhỏ, bởi vì phần nhiều những công ty của Singapore mà chúng tôi đã đến nói chuyện đều có quy mô vừa và nhỏ. Câu hỏi này thường thấy vì ngay khi các chủ doanh nghiệp nhỏ nhìn thấy những thương hiệu lớn mà chúng tôi đưa ra trong những tình huống minh họa cho các nguyên tắc xây dựng thương hiệu, họ đưa mắt nhìn đờ đẫn, há to miệng kinh ngạc và suy nghĩ: “Ra thế, nhưng những nguyên tắc này chỉ áp dụng cho các thương hiệu lớn. Thương hiệu của tôi bé nhỏ quá, không thể dùng được mấy điều này”. Tới đây thì chúng tôi có hai tin cho các bạn: một tốt và một xấu. Tin xấu là không có nguyên tắc riêng biệt nào trong xây dựng thương hiệu dành cho doanh nghiệp nhỏ. Đơn giản là vì bạn nhỏ bé nhưng điều đó không có nghĩa là bạn được đối xử “đặc biệt”. Còn tin tốt là những nguyên tắc xây dựng thương hiệu cũng giống như toán học: một cộng một bằng hai. Chúng có thể được dùng cho tất cả, cho doanh nghiệp lớn lẫn doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp phương Tây và Á Đông, cho giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và doanh nghiệp với khách hàng (B2C). Và hơn nữa những nguyên tắc đã làm nên những thương hiệu lớn ngày nay cũng có thể giúp cho sự phát triển doanh nghiệp của bạn. Đã đến lúc thức tỉnh và làm gì đó cho thương hiệu của bạn Nếu như bạn vẫn cho rằng những nguyên tắc xây dựng thương hiệu không thể ứng dụng trong doanh nghiệp nhỏ của mình, chúng tôi đề nghị bạn cần thay đổi triệt để quan điểm đó bởi vì nó sẽ không giúp cho thương hiệu của bạn đi lên. Bạn chắc chắn có thể áp dụng những nguyên tắc này, và sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc thấu hiểu và ứng dụng các nguyên tắc đó. Vì vậy, đã đến lúc bạn cần nhìn lên để xem những thương hiệu lớn ngày nay như thế nào. Khi xem xét sâu hơn vào quá trình lịch sử, vào những khởi đầu khiêm tốn của họ, chúng tôi chắc chắn rằng bạn sẽ khám phá ra một thực tế giản đơn: mỗi thương hiệu lớn và thành công ngày này đều khởi nguồn từ một xuất phát điểm nhỏ bé và đầy chật vật. Không có gì quá khác biệt với doanh nghiệp của bạn hiện nay, và trong nhiều trường hợp họ còn yếu thế hơn những gì bạn đang có. Theo bình chọn hàng năm của BusinessWeek số ra ngày 6 tháng 8 năm 2007 cho “100 thương hiệu hàng đầu” thì Coca-Cola, Microsoft, IBM, General Electric, Nokia, Toyota, Intel, McDonalds, Disney và Mercedes Benz là 10 thương hiệu có giá nhất thế giới. Tất cả những công ty này đều đã từng là công ty nhỏ, và cũng từng phải tranh đấu vất vả trên thị trường. Nhưng họ đã không loay hoay tìm kiếm những bậc thầy về thương hiệu để hỏi rằng: liệu có hay không những nguyên tắc xây dựng thương hiệu dành cho những doanh nghiệp nhỏ như họ. Họ tự tìm kiếm - và đã tìm thấy - những chiến lược giúp họ chuyển đổi từ nhỏ thành lớn, với những thương hiệu hàng đầu thế giới và kiên định áp dụng những chiến lược này. Đó là lý do tại sao họ thành công. Nếu các công ty này đã theo đuổi một số nguyên tắc xây dựng thương hiệu dành cho doanh nghiệp nhỏ, chúng tôi tin chắc rằng họ đã không thể tăng trưởng lên một tầm cao như ngày nay. Hãy cùng suy nghĩ về điều này. Nếu như có những nguyên tắc xây dựng thương hiệu dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ, tức là những nguyên tắc được tạo ra dành cho mức quy mô này và chúng được phát triển theo giả định rằng những doanh nghiệp nhỏ sẽ dùng đến chúng. Điều đó có nghĩa là gì nhỉ? Có nghĩa là nếu như bạn muốn vào cuộc chơi theo những nguyên tắc đó thì bạn vẫn mãi sẽ chỉ là doanh nghiệp nhỏ mà thôi. Trong khi bạn không muốn vậy, bạn muốn những nguyên tắc được thiết lập để giúp chuyển đổi doanh nghiệp nhỏ của bạn thành một thương hiệu lớn. Không phải tất cả mọi doanh nghiệp đều đạt tầm cỡ toàn cầu. Thực chất của vấn đề này là phần nhiều trong số các doanh nghiệp của chúng ta sẽ vẫn là tương đối nhỏ, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn có thể thua cuộc. Nhưng nếu bạn nắm bắt được những nguyên tắc xây dựng thương hiệu và sử dụng được chúng, bạn sẽ đem về cho doanh nghiệp của mình một cơ hội tốt để tồn tại được sau thử thách của thời gian và cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ. Rồi bạn sẽ có thể hy vọng rằng doanh nghiệp nhỏ bé của mình sẽ trở thành hạng vừa vào ngày mai. Và khi bạn đã là doanh nghiệp cỡ vừa thì ai mà biết chuyện gì có thể diễn ra sau đó? Mỗi bước đi trong từng thời điểm, làm những việc đúng và làm đúng những việc cần làm. Lời dịch giả "Sát thủ khác biệt hóa" Thương hiệu luôn là vấn đề lớn đối với mọi doanh nghiệp Việt Nam khi cạnh tranh tại thị trường trong nước. Điều này càng quan trọng hơn khi các doanh nghiệp muốn vươn ra sân chơi quốc tế. Làm thế nào để khách hàng vui vẻ chọn mua sản phẩm của mình, đó là câu hỏi mà mọi doanh nghiệp đều trăn trở. “Sát thủ Khác biệt hóa” đưa ra các giải pháp khả thi nhất cho vấn đề trên. Với 13 chiến lược phát triển thương hiệu thông qua khác biệt hóa, cùng các tình huống minh họa sống động đúc kết từ thực tế kinh doanh, đây có thể được xem là bộ cẩm nang dành cho mọi doanh nghiệp. Nội dung chính của cuốn sách được đặt trong bối cảnh thị trường Singapore (có nhiều nét tương đồng với thị trường Việt Nam) với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy giá trị thực tiễn của nó càng đáng kể hơn. Xây dựng thương hiệu thông qua khác biệt hóa là một công tác đòi hỏi sự nhất quán và truyền thông liên tục trong dài hạn. Đây cũng là nhiệm vụ của tất cả mọi thành viên trong một doanh nghiệp, chứ không của riêng người lãnh đạo hay bộ phận Marketing, PR. Để xây dựng thương hiệu thành công, doanh nghiệp phải tập trung tối đa vào ý tưởng khác biệt hóa mà mình đã chọn, điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp phải chấp nhận hy sinh các mục tiêu khác. Những thông điệp trên đây được truyền tải xuyên suốt 13 chiến lược khác biệt hóa mà Jacky Tai và Wilson Chew đã đề cử trong cuốn sách này. Không chỉ dừng lại ở đó, các tác giả còn tranh thủ giới thiệu những nét đặc trưng tích cực của văn hóa kinh doanh Singapore, qua đó khéo léo tôn vinh những thương hiệu của đảo quốc này. Cuốn sách chính là công cụ quảng bá hữu hiệu cho thương hiệu quốc gia Singapore. Đây cũng có thể được xem là một ý tưởng dành cho các doanh nghiệp Việt Nam muốn góp công sức vào việc định vị và xây dựng thương hiệu Việt trên thương trường quốc tế. Nguồn: Abviet.com | |
Thứ Hai, 24 tháng 8, 2009
nghiên cứu mới về người tiêu dùng châu Á
nghiên cứu mới về người tiêu dùng châu Á | |
| Nguyên An Tạp chí Marketing | |
Không chắc chắn về tương lai, tiết kiệm mà muốn có nhiều tiền hơn. Đó là những phát hiện mới nhất của Grey Group châu Á – Thái Bình Dương trong cuộc khảo sát người tiêu dùng chấu Á có tên là Eye on Asia 2009. Nghiên cứu này tập trung vào hy vọng và mơ ước của người dân tại 16 quốc gia tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Không chắc chắn về tương lai Theo khảo sát của Eye on Asia, nhìn chung sư lạc quan của người châu Á đã giảm đi đáng kể. Tâm trạng chán nản về tài chính khiến thái độ của họ trở nên tiêu cực. Sự bi quan dẫn đến gia tăng xu hướng làm việc và tiết kiệm nhiều hơn. Có đến 76% người dân châu Á tin rằng tương lai sẽ tốt đẹp hơn quá khứ trong khi chỉ có 30% tin tưởng chắc chắn điều này. Mức độ lạc quan này chủ yếu được tìm thấy tại Bangladesh, Sri Lanka và Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người châu Á không chắc chắn về tương lai, chỉ 30% bằng lòng hơn năm ngoái trong khi 39% lại kém hài lòng hơn. Rõ ràng nhất là mức độ hài lòng ở Đài Loan (60%) và Hàn Quốc (50%) đã giảm đi. 63% người châu Á hài lòng với cuộc sống hiện tại, nhưng con số cụ thể ở các quốc gia có sự chênh lệch rất lớn, đặc biệt là tại những quốc gia có phần lớn dân số không thỏa mãn với cuộc sống hiện tại như Đài Loan, Indonesia, Hồng Kông và Nhật Bản. Muốn có nhiều tiền nhưng sẽ bận rộn hơn Cuộc suy thoái kinh tế khiến 80% dân số châu Á phải tiết kiệm cho tương lai. 50% hưởng ứng những biện pháp cắt giảm chi phí và tích cực tìm kiếm hàng hóa có mức giá phù hợp để tiết kiệm tiền. Chỉ 45% thấy thoải mái về tài chính hiện tại trong khi có đến 97% muốn có nhiều tiền hơn nữa. Nghiên cứu cũng cho thấy 46% người dân châu Á rất quan tâm đến tiền bạc trong nhà. Sức ép từ những khó khăn về tài chính thúc đẩy các bà mẹ trước kia không đi làm thì nay cũng tham gia vào lực lượng lao động. 89% đồng ý rằng với tình hình kinh tế ngày nay, phụ nữ cần đi làm để tăng thu nhập cho gia đình. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan bởi họ phải làm tốt cả hai vai trò trong sự nghiệp và gia đình. 81% cảm thấy các bà mẹ ngày nay quá bận rộn và không có đủ thời gian dành cho con cái. Nếu được lựa chọn, nhiều người sẽ thích ở nhà chăm sóc con cái. Nhưng cũng có không ít bà mẹ khác cho rằng có một sự nghiệp thành đạt giúp họ cân bằng và thích nghi với vai trò làm mẹ tốt hơn. 62% phụ nữ châu Á cảm thấy hài lòng về vai trò làm mẹ của mình. Mức độ hài lòng cao nhất ở những quốc gia đang phát triẻn như Bangladesh và Việt Nam, trong khi mức độ hài lòng thấp nhất tồn tại ở quốc gia giàu có như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Mua hàng online nhiều hơn Suy thoái kinh tế cũng tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong thói quen mua sắm của người châu Á và xuất hiện nhiều hành vi mua hàng mới. Khủng hoảng làm cho người tiêu dùng trì hoãn các quyết định mua hàng cho đến khi thấy hàng hóa hiện hữu trước mặt. Với suy nghĩ và tâm lý phức tạp của người mua hàng ngày nay, ít nhất 75% các quyết định mua hàng được thực hiện trong khu vực bán lẻ. 81% các bà mẹ châu Á cảm thấy thiếu thời gian, do vậy, cần làm cho môi trường bán lẻ trở nên thú vị và đơn giản hơn. Hoạt động marketing phải thúc đẩy niềm cảm hứng của cả khách hàng, người mua hàng và thương hiệu. Các nhóm tiêu dùng thương hiệu tại châu Á: gồm có năm phân khúc riêng biệt. • Những người thích thương hiệu “mới” (21%): thích cái mới, bởi nó là mới lạ và khác biệt. Nguồn: Tạp chí Marketing | |
Tầm quan trọng của PR đối với các doanh nghiệp
Tầm quan trọng của PR đối với các doanh nghiệp | |
| Hiền Trang- dịch từ FC Người lãnh đạo | |
“Quan hệ công chúng (PR) là một chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì sự truyền thông 2 chiều, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức và “công chúng” của họ … Thông thường các cá nhân không để ý đến việc quảng bá hình ảnh nhưng đối với các tổ chức, các ngôi sao thể thao, các chính trị gia và doanh nhân thì PR lại rất cần thiết và quan trọng đối với họ. Quan hệ công chúng là yếu tố cốt yếu tạo thành công trong sự nghiệp. Các ngôi sao phim, ngôi sao ca nhạc cần các fan hâm mộ để quảng cáo bộ phim của họ. Các ngôi sao thể thao cũng cần sự trợ giúp nhằm tăng sự nổi tiếng từ các fan. Các chính trị gia cần có con mắt nhìn tốt từ phía công chúng vì danh tiếng xấu có thể gây cho họ mất đi uy tín. Tương tự đối với các tổ chức, các chính trị gia, các doanh nhân cũng cần được đề cập đến quan hệ công chúng. Bạn phải nhớ rằng hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phụ thuộc vào các khách hàng quen. Nếu bạn có mối quan hệ không tốt với những khách hàng của mình thì điều đó có thể tạo ảnh hưởng tiêu tực tính tiềm năng đối với những quyết định của họ trong việc tiếp tục hợp tác với bạn. Khi bạn kinh doanh, yếu tố đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty là bán hàng. Bán hàng có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực dựa trên một vài đặc điểm. Nó bao gồm danh tiếng của công ty, chất lượng dịch vụ/sản phẩm và mối quan hệ mà bạn thiết lập với khách hàng. Nếu doanh nghiệp bị mang tiếng xấu, điều đó sẽ ảnh hưởng nhiều đến doanh số bán. Nếu sản phẩm và dịch vụ tồi tệ thì nó cũng ảnh hưởng đến doanh số bán. Nếu bạn thiết lập mối quan hệ không tốt với khách hàng, nó cũng ảnh hưởng tới doanh số bán. Quan hệ công chúng có mối quan hệ lớn trong việc doanh nghiệp sẽ phát triển như thế nào. Điều này giải thích tại sao nhiều công ty lớn phải tuyển những người hiểu rõ về quan hệ công chúng, những người được gọi là quản lý quan hệ công chúng (PR). Công việc của họ là quan tâm đến công chúng, và không gì có thể hơn điều đó.
PR tốt rất cần thiết đối với một doanh nghiệp thành công, đặc biệt khi bạn trở thành một công ty lớn. Cộng đồng kinh doanh là một cộng đồng xã hội vì thế mối quan hệ của bạn với mọi người xung quanh là rất nhiều. PR tồi có thể ảnh hưởng đến danh tiếng của công ty, danh tiếng cá nhân và nguồn vốn tạo lợi nhuận. Các công ty lớn thường tuyển dụng nhân viên PR để xây dựng hình ảnh công ty. Những người được tuyển dụng phải chắc chắn rằng doanh nghiệp đó luôn giữ được hình ảnh tốt với khách hàng và công chúng. Tuy nhiên, việc tuyển dụng người để quản lý quan hệ công chúng nghĩa là bạn phải bỏ ra một số tiền không nhỏ. Nhưng điều đó lại cần thiết nếu bạn có một công ty lớn. Bạn có thể tuyển dụng một người làm PR để quan tâm đến các vấn đề, họ sẽ giúp bạn có nhiều thời gian và làm được nhiều việc quan trọng khác. Để PR tốt thì bạn cũng tiêu tốn khá nhiều tiền. Vì thế bạn phải chắc chắn rằng bạn bán những sản phẩm/ dịch vụ tốt cùng với đó là các nhân viên phải ứng xử tốt với khách hàng. PR tồi thường nảy sinh từ những tình huống không tốt liên quan đến bạn và công ty vì thế hãy chắc chắn bạn giữ hình ảnh của mình cũng như của công ty... Quan hệ công chúng (PR) là một chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì sự truyền thông 2 chiều, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức và “công chúng” của họ. …Quan hệ công chúng bao gồm sự quản lý những vấn đề hay sự kiện ma tổ chức cần phải nắm được dư luận của quần chúng và có trách nhiệm thông tin cho họ. Hơn thế nữa PR còn là một trong những công cụ hỗ trợ bán hàng hữu hiệu đối với tất cả các Doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân. Những người muốn tạo ra một tầm ảnh hưởng nhất định của mình đối với những đối tượng nhất định. Tuỳ vào mục đích của mình và đối tượng mà mình muốn tác động, các tổ chức hoặc cá nhân này sẽ có những cách thức và hình thức tiếp cận khác nhau: có thể tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội như các hoạt động từ thiện, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng do các tổ chức hoạt động nhằm mục đích xã hội tổ chức nhằm tạo ra hình ảnh một tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm với công đồng; hoặc cũng có thể tham gia dưới hình thức một nhà tài trợ mạnh tay luôn thấy xuất hình ảnh trong các chương trình có quy mô lớn như các cuộc thi Hoa hậu, các Hội chợ triển lãm tầm cỡ... Tất cả những hình thức đó nhằm tạo ra một hình ảnh đẹp, nổi bất và rộng khắp về bản thân tổ chức hoặc cá nhân với mong muốn thông qua những hình ảnh được đánh bóng đó, công chúng sẽ trở nên gần gũi và dành nhiều thiện cảm, quan tâm hơn tới họ. Nguồn: Người lãnh đạo | |
Nghiên cứu tâm lý để hiểu rõ khách hàng
Nghiên cứu tâm lý để hiểu rõ khách hàng | |
| Anthony Tjan - Nguyễn Tuyến dịch Harvard Business Publishing,Tuần Việt Nam | |
Ngay từ khi được thiết kế, những nghiên cứu về khách hàng đã có xu hướng định kiến về nhân khẩu học. Nhưng đã đến lúc chúng ta cần phải tìm hiểu về khách hàng trên một khía cạnh khác: Đó là tâm lý. Khi xét đến hành vi mua bán rõ ràng là tính cách rất quan trọng. Vậy thì đâu là lý do tại sao chúng ta thường xuyên nhìn vào việc sử dụng các trang web hoặc các thông tin khách hàng một cách chi tiết theo khung, mẫu về nhân khẩu học như tuổi tác và giới tính? Mặc dù có ích nhưng những đặc điểm đó không mô tả được xu hướng thái độ của khách hàng. Những điều này có thể còn quan trọng hơn và cần phải là một phần bổ sung quan trọng cho những thông tin dữ liệu khác. Tâm lý học là những luận điểm thông tin mô tả giá trị, ý kiến và lối sống của người sử dụng. Nghĩ đến những đặc điểm về tâm lý học như một loại dữ liệu mà một nhà tâm lý hoặc một nhà nhân loại học sử dụng để mô tả sơ lược một ai đó như một nguồn thông tin đối ngược với những dữ liệu về mặt nhân khẩu học mà một nhà nghiên cứu thống kê muốn thu thập. Hoặc xem xét đến những thông tin bạn có thể muốn thu thập cho những ngày nhất định. Nhân khẩu học có thể có ích trong việc giới hạn hẹp lại phạm vi nghiên cứu, ví dụ như những người đàn ông 30 tuổi tại Chicago nhưng liệu như thế đã đủ chưa? Để chọn được bạn đời, bạn còn muốn xem xét tính cách, sở thích và những giá trị đối với người đó. Tương tự, với những khách hàng yêu thích sản phẩm hoặc thương hiệu của công ty bạn, bạn cần hiểu tính cách và đam mê của họ và xét xem những điều đó có liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của bạn như thế nào.
Với những khách hàng yêu thích sản phẩm hoặc thương hiệu của công ty bạn, bạn cần hiểu tính cách và đam mê của họ và xét xem những điều đó có liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của bạn như thế nào. Ảnh: saophuongbac.com Vì không hề có một bản mô tả sơ lược tâm lý tiêu chuẩn nào, chúng ta có thể sử dụng một số ý tưởng trên khía cạnh tâm lý. Môt bản mô tả sơ lược tâm lý cho chúng ta biết về việc làm thế nào một người tương tác với thế giới (họ hướng nội hay hướng ngoại, có xu hướng thiên về phân tích hay tình cảm) và họ coi trọng điều gì nhất (Sự an toàn? Gia đình? Môi trường?). Bạn có thể kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu “cổ điển” với những câu hỏi dựa trên tính cách cá nhân hoặc có tính hỗ trợ, kết hợp. Ví dụ, hãy hỏi câu: nếu bạn (hoặc sản phẩm, dịch vụ này) là một chiếc ôtô, thì nó sẽ là loại ôtô như thế nào? Một chiếc Mini, một chiếc Mercedes, một chiếc Range Rover hay một chiếc Prius? Mỗi một trong số những chiếc ôtô kể trên bao hàm những tính cách khác nhau và bạn có thể sử dụng những câu trả lời để suy luận ra những đặc tính cá tính, nhân cách mong muốn. Trong thế giới tiền công nghệ kĩ thuật số, việc thu thập đầy đủ thông tin để tạo ra một bản sơ lược mô tả tâm lý thường đòi hỏi tiến hành nhân loại học khách hàng một cách tốn kém. Hãy tưởng tượng các nhà nghiên cứu quan sát và theo dõi khách hàng khi họ tương tác với sản phẩm. Tuy nhiên, giờ đây, khi khách hàng sử dụng ngày càng nhiều thời gian online, việc nghiên cứu khách hàng trực tuyến trở nên khả thi hơn vì những thông tin dữ liệu về khách hàng có thể được thu thập và phân tích một cách tốt hơn và rẻ hơn. Gắn máy quay tại các gian hàng cũng có thể giúp đem lại nhiều hiểu biết. Các nhà nhân loại học và những nhà nghiên cứu khách hàng thuộc Paco Underhill đã quay hàng nghìn giờ video tại các gian hàng bán lẻ. Một khám phá được đưa ra là: khách hàng mua ít hơn khi tay họ đã cầm đầy đồ; các giỏ mua hàng tại giữa gian hàng có thể giúp tăng doanh số bán hàng. Trong một nghiên cứu khách hàng có quy mô lớn mà tôi từng đảm nhận, chúng tôi phát hiện ra rằng những bà mẹ mới sinh con đặc biệt hay mua tã lót và máy quay - đặt hai mặt hàng này tại những quầy hàng ở gần nhau giúp thúc đẩy doanh số bán hàng đa sản phẩm. Vậy, làm thế nào bạn có thể sử dụng những dữ liệu tâm lý? Giả sử bạn muốn quảng bá một sản phẩm ngũ cốc giàu dinh dưỡng mới. Không có nhóm khách hàng phân theo nhân khẩu học rõ ràng nhưng lại có nhóm khách hàng phân loại theo tâm lý rõ ràng cho sản phẩm này. Bạn có thể hướng tới bất cứ ai thích những sản phẩm thuộc thương hiệu của Whole Foods và Eastern Mountain Sports, thể hiện sự quan tâm đến sức khoẻ và sự cân đối, và quan tâm đến môi trường. Bạn cũng có thể sử dụng những thông tin tâm lý để biết bạn làm thế nào để quảng bá sản phẩm đó tới một nhóm khách hàng cụ thể. Bạn cũng có thể giới thiệu sản phẩm tới nhóm khách hàng “có xu hướng thích phân tích và nghiên cứu” bằng việc đề cập đến công thức độc đáo của loại ngũ cốc trong khi bạn cũng có thể liên hệ đến những trường hợp nghiên cứu và sự chứng thực khi giới thiệu sản phẩm đó tới những khách hàng coi trọng ý kiến của các chuyên gia. Sau đó, nhiệm vụ tiếp theo là các công cụ cảm xúc và các biện pháp đánh giá khách hàng trực tuyến là phải bắt đầu hiểu được khách hàng theo trục tâm lý. Dưới đây là một vài cách để thực hiện điều này. Đầu tiên, thành viên của nhóm khách hàng đánh giá kênh người sử dụng của công ty có thể hoàn thành một bản nghiên cứu điều tra về tâm lý: ba thương hiệu yêu thích của họ là gì? Họ thích loại xe hơi nào? Vào tối thứ Sáu, họ sẽ ở tại nhà và xem phim hay là đi ra ngoài? Cách thứ hai để hiểu được người sử dụng của bạn làm gì trước và sau khi họ sử dụng sản phẩm của công ty bạn và mô tả sơ lược nội dung và nhóm khách hàng này. Trong bản nghiên cứu của tôi về chiến lược khách hàng, chúng tôi đã thảo luận nhiều đến một kĩ năng sử dụng tại Thomson Reuters được gọi là quy tắc 3 phút, chúng tôi quan sát những người sử dụng làm gì 3 phút trước và sau mỗi lần tương tác với sản phẩm. Cuối cùng, cái gọi là dịch vụ “kí giao kèo đơn” sẽ giúp liên kết hành vi người sử dụng ở những mảng khác nhau dễ dàng hơn. Google, Microsoft và Yahoo đều tham gia vào những dự án OpenID, và Facebook cũng có một khoảng giao diện cạnh tranh gọi là Connect cho phép người sử dụng đăng nhập vào các địa chỉ với một tài khoản sử dụng. Một cơ sở dữ liệu trung tâm có thể chứa đựng mọi thứ từ những lời bình luận trên các trang blog và những sự tự mô tả cá nhân trên các địa chỉ mạng lưới xã hội để mua bán dự liệu và nghiên cứu lịch sử. Tâm lý học cho phép chúng ta hiểu được khách hàng hiện thời và tiềm năng trên khía cạnh niềm tin và giá trị thúc đẩy hành vi mua bán của họ. Trong thế giới công nghệ kĩ thuật số giúp ta dễ dàng đánh giá hơn, tâm lý học sẽ ngày càng giúp gia tăng sự hiểu biết về khách hàng. | |
Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2009
Có ít hơn nhưng làm được nhiều hơn
Có ít hơn nhưng làm được nhiều hơn | |
| Scott D. Anthony - Harvard Business Publishing - Minh Phương dịch Tuần Việt Nam | |
Các công ty có ý định cắt giảm dịch vụ khách hàng đang gặp thách thức đầy khó khăn vì sau nhiều thập kỷ cải thiện liên tục, hầu hết các công ty này đã không còn nhiều mảng thừa để mà cắt giảm. Đó là vấn đề “có ít hơn nhưng phải giải quyết được nhiều hơn”. Dễ dàng nói rằng những giai đoạn khó khăn đòi hỏi phải làm được nhiều hơn với nguồn lực ít hơn, nhưng khó là biết được chính xác ý nghĩa của điều đó. Việc này liên quan đến cắt bỏ đi khoản chi tiêu khổng lồ nhất trong ngân sách, hoặc là mở rộng phạm vi cắt giảm ra toàn bộ (còn được gọi là cắt giảm “bơ đậu phụng”). Bạn có thể có ít nguồn lực hơn nhưng vẫn làm được nhiều hơn chừng nào bạn có thể tìm ra chính xác “nhiều hơn” ở đây có nghĩa là gì. Điều này có nghĩa là bất cứ một nỗ lực cắt giảm chi phí nào cũng phải bắt đầu với một sự hiểu biết tường tận về khách hàng, về công việc mà họ đang cố gắng hoàn thành, và ngôn ngữ mà họ sử dụng để đo lường khả năng thực hiện. Kiến thức này có thể giúp nắm bắt những cơ hội để chi ra ít hơn nhưng tạo ra nhiều giá trị hơn. Ví dụ một công ty ximăng đã chia nhỏ khách hàng của mình thành nhóm những người tìm kiếm loại bê tông chắc chắn để xây cột nhà với nhóm những người tìm kiếm loại bê tông “có tác dụng hơn” để xây tường và cầu thang. Công ty này cũng chia nhóm những công ty tìm kiếm dịch vụ tốt hơn với những công ty chỉ cần những “dịch vụ cơ bản”. Thay vì đưa ra một giải pháp nhưng không phù hợp với bất kỳ khu vực nào, công ty đã đưa ra những đề nghị riêng biệt đối với từng khu vực. Kết quả là gì? Mỗi khu vực trở nên lớn mạnh hơn và thu lợi nhuận nhiều hơn. Đó gọi là có ít hơn những làm được nhiều hơn! Hãy nhớ rằng, mánh khóe của nhiều công ty hoạt động kém là cố tình đánh tráo khái niệm giữa tình hình hoạt động nghèo nàn với sự đơn giản và khả năng chi trả. Hãy thử xem xét Craigslist (một mạng tập trung của các cộng đồng online, bao gồm những quảng cáo online được phân loại – với công việc, thực tập, nhà cửa, cá nhân, để bán/trao đổi/tìm kiếm, dịch vụ, cộng đồng… và các diễn đàn về nhiều chủ đề khác nhau). Trang web này không có dịch vụ khách hàng và không có một giao diện đẹp mắt, nhưng nó không mất tiền và rất dễ sử dụng. Khách hàng đã vui vẻ sử dụng dịch vụ để tìm kiếm những thứ mà thông thường sẽ không nằm trong danh sách của bất cứ một mục đã được phân chia nào của một tờ báo (ví dụ như một điểm đỗ xe đáng giá ở trung tâm Boston). Cách thức tiếp cận có-ít-hơn-nhưng-làm-đuọc-nhiều-hơn đã đem lại một thành công bền vững – quả là một điều đáng xấu hổ của các công ty truyền thông. Ý niệm này cũng được áp dụng với những nỗ lực từ bên trong tổ chức để cắt giảm chi phí. Ví dụ, có thể những nhân viên trẻ không thực sự quan tâm đến những kế hoạch chăm sóc sức khỏe toàn diện, và sẽ vui vẻ chấp nhận một kế hoạch chăm sóc cơ bản nhưng đáp ứng được nhu cầu của họ thay vì việc lựa chọn để đầu tư vào một kế hoạch chăm sóc toàn diện hơn. Nếu không có một sự hiểu biết rõ ràng về khách hàng cũng như những vấn đề mà họ đang cố gắng giải quyết, “có ít hơn nhưng làm được nhiều hơn” sẽ bị biến thành “có ít hơn và cũng làm được ít hơn”. Một cách tiếp cận thông minh để cắt giảm chi phí có thể thực sự mở ra hẳn một thị trường mới bằng cách cung cấp những giá trị tốt hơn – trong mắt của những khách hàng. Nguồn: Tuần Việt Nam | |
Xây dựng quan hệ và cơ hội thành công
Trừ khi bạn tự bó chân mình ở một nơi nào đó như Montana chẳng hạn, mỗi ngày thường thì bạn sẽ gặp thêm nhiều người mới, hoặc chí ít thì cũng là mỗi tuần. Khi bạn gặp họ, bạn tiếp cận và tự đánh giá được là họ có thể giúp bạn đạt được mục tiêu cá nhân hay nghề nghiệp của mình hay không. Nghe thì có vẻ tính toán nhưng theo Melissa Giovagnoli và Jocelyn Carter-Miller, tác giả của cuốn Mạng lưới toàn cầu: Xây dựng quan hệ và cơ hội thành công (Jossey-Bass, 2000), bằng cách tìm kiếm những nét đặc trưng trong các mối quan hệ và liên hệ của mình, bạn có nhận ra được người cộng tác trong “mạng lưới toàn cầu” của mình, những người mà bạn có thể phát triển mối liên hệ với họ. Dưới đây là những đức tính mà tác giả cho rằng bạn nên tự tạo ra trong con người mình đồng thời cùng lúc cố tìm ra ở người khác.
1. Biết hợp tác
Họ là những người biết chia sẻ với thành công của bạn đồng thời cũng biết lắng nghe, chia sẻ mỗi khi bạn gặp khó khăn.
2. Thường xuyên giữ liên lạc
Trái với những “cơ hội”, những kẻ mà tác giả đưa vào loại mà chỉ gọi cho bạn khi họ cần một cái gì đó, “mắt xích toàn cầu”của bạn là những người gọi đến bạn mặc dù chằng có gì xảy ra. Theo kinh nghiệm của chúng tôi thì kỹ năng trên đây là tối quan trọng đối với người làm buôn bán, những người mà thường xuyên liên hệ và cần có những mối quan hệ. Hãy liên tục thông báo cho mọi người việc làm của bạn và động viên bạn lam những việc tương tự.
3. Đáng tin cậy và có trách nhiệm
Hãy tìm những người đáp ứng lại những yêu cầu của bạn và thực hiện nó thực sự - đó là những người thực sự có trách nhiệm và không thường đưa ra những lời xin lỗi hay bào chữa cho việc không giữ lời hứa của mình.
4. Có ảnh hưởng
Những người có ảnh hưởng thường là những người giàu có, có tiếng tăm hay địa vị, nhưng họ cũng có thể là người có thể làm được việc và thuyết phục người khác làm theo hoặc cho họ.
5. Có tri thức, hiểu biết
Không đơn thuần chỉ là tích trữ thông tin, người có tri thức, hiểu biết là người có kinh nghiệm mà họ có thể sử dụng để giúp người khác khi họ đối mặt với những khó khăn tương tự.
6. Là người biết lắng nghe tích cực
Đặc điểm này rất hiếm thấy cũng như là khó có thể đánh giá đúng. Những người biết lắng nghe tích cực thường nghe và hiểu, có những biểu lộ cảm xúc thực sự, hiểu được hy vọng, nỗi sợ hãi hay giấc mơ đằng sau những lời nói ngôn từ. Sau đó, họ có thể có những phản hồi biểu thị được sự thấu hiểu của họ.
7. Biết thông cảm
Sự thông cảm ở một “mắt xích toàn cầu” là sự quan tâm đến người khác ngay cả khi không có chuyện gì xảy ra cả. Nó cho thấy là bạn hiểu những gì một người đang phải trải trải qua chứ không đơn thuần là nghe những mô tả chung chung về nó.
8. Biết đánh giá
Những việc nhỏ bao giờ cũng rất có ý nghĩa. Một tờ giấy nhỏ bày tỏ sự cảm ơn, email qua lại, một vài món quà nhỏ thể hiện sự kính trọng của bạn – đó là những đức tính mà những người biết đánh giá bày tỏ thực sự có. Sự biết ơn thể hiện cảm xúc là hành động của một người nào đó là có ý nghĩa và giá trị.
Theo tamnhin
Đi tìm khách hàng mục tiêu
Đi tìm khách hàng mục tiêu | |
| Hiền Trang (Theo BW) Người Lãnh đạo | |
Làm hài lòng quá nhiều kiểu khách hàng khác nhau có thể gây tổn thất lớn cho doanh nghiệp. Hãy chú trọng tới những khách hàng cốt yếu và đừng lãng phí tiền với kiểu khách hàng khác. Đầu tiên, hãy thử làm một bài test: Dành một phút và viết ra ba kiểu khách hàng mà công ty không muốn. Và một điều rút ra rất quan trọng là: Bạn không thể lựa chọn được những người không thích mua hàng hoặc "khách hàng hi vọng” – kiểu khách hàng mà không có doanh nghiệp nào cần cả". Nếu bạn giống như hầu hết các chủ doanh nghiệp thì việc nhận ra những khách hàng không mong muốn chẳng dễ dàng chút nào đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng như hiện nay. Tuy nhiên, việc cân nhắc khách hàng nào ít quan trọng nhất rất có ích để bạn chú trọng đến khách hàng quan trọng nhất. Tất cả chúng ta điều biết đến câu nói "bạn không thể làm mọi thứ để đáp ứng cho mọi người". Và dĩ nhiên, trong kinh doanh cũng vậy. General Motors là một ví dụ điển hình. Đầu tiên mỗi cái tên của GM mục tiêu hướng tới khách hàng qua phân tích nhân khẩu học, trong khi các thương hiệu khác chú ý đến nhu cầu khách hàng. Tuy nhiên, qua vài thập kỷ, mỗi thương hiệu GM mở rộng thị trường của nó để đáp ứng nhu cầu nhiều loại khách hàng khác nhau – xe ô tô thể thao dành cho những người đam mê đua ô tô, xe tải mini dành cho những gia đình trẻ, xa tải dành cho những người làm việc – và thương hiệu kết thúc việc “bước trên mũi chân” của người khác. Hãy xem một trong những thương hiệu trước đây đã từng nổi tiếng và giờ trở thành đống đổ nát: Pontiac. Trở lại những năm của thập kỷ 60, 70, Pontiac được biết đến bởi những xe ô tô "cơ bắp" như GTO, Firebird, and TransAm. Thương hiệu Pontiac có nghĩa là sức mạnh, phong cách và lạnh lùng. Sự hấp dẫn của nó không phải dành cho tất cả mọi người nhưng sức mạnh của nó lại dành cho một số ít người. Tuy nhiên, kể từ đó, Pontiac đã cho ra đời mẫu mã mới như Trans Sport (một xe tải mini), Sunfire (một xe ô tô nhỏ, chật), Aztek (một sự pha tạp kiểu dáng SUV), và Vibe (một loại xe ô tô đuôi cong). Nhưng chúng lại chẳng rõ ràng hướng tới mục tiêu khách hàng là ai, chính xác hơn Pontiac không cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng, theo cách nói là làm cho khách hàng hài lòng. Và ngay sau đó Potiac trở thành thương hiệu đáng tự hào của GM. Đừng quên mục tiêu Có thể nói Wal-Mart sẽ học được nhiều từ ví dụ của GM. Công ty đã và đang thu hút nhiều khách hàng. Trong quý đầu của năm 2009, 17% những người mua lẻ của Wal-Mart là từ khách hàng mới và họ chi đến 40% vào các cửa hàng hơn là các shop thông thường. Công ty sẽ chấp nhận việc kinh doanh của họ? Bạn có thể coi, xây dựng thương hiệu là chú ý đến việc mua bán của họ mà bạn sẽ tìm kiếm chứ không phải là bạn sẽ có. Nhưng nếu Wal-Mart không chú ý nhiều hơn đến nhu cầu của khách hàng thì có thể họ sẽ mắc sai lầm. Cách đây nhiều năm, các thương hiệu kiểm tra sức khỏe bà bầu tại nhà đã tạo nên một chiến dịch quảng cáo khá thành công, đặc biệt ở việc có được khách hàng triển vọng trong độ tuổi sinh sản. Do tính chất của quảng cáo, công ty đã nhận được nhiều lời phàn nàn từ các phụ nữa có tuổi, những người nghĩ rằng họ không được quan tâm. Lời đáp lại của công ty như thế nào? Họ bỏ qua. Không phải công ty không quan tâm đến những lời phàn nàn mà đơn giản họ nhận ra rằng những người phụ nữ có tuổi không phải là khách hàng mục tiêu cho việc kiểm tra thai nhi và do đó họ không quan tâm đến việc những người đó sẽ nghĩ như thế nào về quảng cáo. Ai là khách hàng mục tiêu tốt nhất? Bạn vẫn có thể nhận thấy rằng thật khó khăn để nghĩ xem đâu là những kiểu khách hàng bạn không muốn. Tuy nhiên, đây là gợi ý: Bắt đầu bằng việc miêu tả khách hàng tốt nhất của bạn trong số những người mà bạn đã nắm rõ về nhân khẩu học hoặc thái độ của họ. Có lẽ khách hàng tốt nhất là những người độ tuổi thanh thiếu niên, những người đang sống tại gia đình có thu nhập riêng, họ hiểu biết về truyền thông hoặc có lẽ, khách hàng tốt nhất của bạn là những người về hưu, những người đang sống nhờ khoản trợ cấp, họ có nhiều thời gian, họ giống như những người thích “buôn dưa lê”, và không ngừng so sánh với người khác về sản phẩm, dịch vụ mà họ mua. Có nhiều cách để miêu tả con người dựa trên nhân khẩu học – hành vi của người tiêu dùng, phong cách sống, thái độ, sự hiểu biết, niềm đam mê… và nếu đó là khách hàng tốt nhất của bạn thì hãy lập một mục riêng. Tiếp theo, hãy loại trừ những khách hàng tốt nhất thì sẽ ra khách hàng bạn không muốn theo đuổi. Hoặc bạn có thể sắp xếp kiểu khách hàng theo dạng từ “cần nhất” đến “ít cần nhất” để định hướng cho các hoạt động tiếp thị của mình, có những biên pháp làm hài lòng khách hàng bạn “cần nhất” . Nguồn: Người Lãnh đạo | |
Chiến lược thông minh để xây dựng lòng trung thành của khách hàng
Chiến lược thông minh để xây dựng lòng trung thành của khách hàng | |
| Tùng Anh (Theo CSR) Người Lãnh Đạo | |
Sức ép của nền kinh tế buộc các công ty “thắt lưng buộc bụng”, tìm mọi cách để đứng vững trên thị trường và đánh bật đối thủ cạnh tranh của mình. Một trong những chiến lược thông minh nhất đó là xây dựng lòng trung thành của khách hàng. Chiến lược 1: Hiểu khách hàng Khách hàng không phải ai cũng như ai, mỗi người có một đặc tiểm, tính cách, mong muốn, nhu cầu khác nhau. Chính vì thế, điều quan trọng là hiểu mọi điều về khách hàng để chắc chắn rằng bạn mang đến cho họ những giá trị cao nhất. Từ thông tin cơ bản như tên tuổi, địa chỉ, đến mong muốn và tất tần tật, song quan trong nhất đó là hiểu khách hàng để rút ngắn mối quan hệ, khớp nối với sứ mệnh của công ty và thiết lập lòng tin ở khách hàng. Chiến lược 2: Phát triển một chiến lược khách hàng Chúng ta để ý rằng, hầu hết các các công ty thường đầu tư nhiều thời gian và tiền bạc cho những khế hoạch, chiến lược kinh doanh, những giải pháp công nghệ, chiến lược tài chính chứ hiếm khi phát triển một chiến lược khách hàng. Trong khi đó, một chiến lược khách hàng tốt nâng cao trải nghiệm cá nhân của mỗi khách hàng sẽ cho nhiều kết quả tốt ở những thị trường chưa được khám phá và cả những nơi doanh nghiệp đã khá ổn định. Bằng việc viết một chiến lược cho mỗi khách hàng và cá nhân hóa chúng thông qua những thông tin bạn biết về họ (đã nằm trong chiến lược 1), bạn sẽ có được những cách tiếp cận hệ thống và bài bản về thị trường. Chiến lược 3: Thực hiện dựa trên lời hứa Khách hàng mua sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên lời hứa của bạn và công ty trước đó. Vì thế, hãy chắc chắn rằng bạn luôn luôn thực hiện đúng lời hứa đó và duy trì sự tín nhiệm với khách hàng của mình. Khách hàng sẽ theo đuổi công ty mà họ đã đặt niềm tin để mua sản phẩm/dịch vụ cần thiết theo đúng giá trị mà họ mong muốn nhận được. Trong cuốn sách Trust Based Selling, các tác giả cho thấy sự tin cậy được cấu thành từ 4 yếu tố: sự tín nhiệm (Credibility), đáng tin cậy (Reliability), sự quen thuộc (Intimacy) và sự tự định hướng (Self-Orientation). Sự phối hợp của những yếu tố trên được sử dụng đúng đắn sẽ tạo kết nối với khách hàng và hình thành mối quan hệ lâu dài. Chiến lược 4: Đào tạo nhân viên bán hàng Đào tạo nhân viên bán hàng là việc làm ưu tiên hàng đầu. chúng ta cần phải giúp họ hiểu được đặc điểm mỗi khách hàng, biết được họ đang muốn mua gì, nắm rõ được lời hứa mà chính bản thân doanh nghiệp đã đặt ra. Và hơn hết, không chỉ đào tạo họ với những điều cơ bản của dịch vụ khách hàng mà còn hơn cả như thế. Họ cần biết cách phản ứng trong tất cả các tình huống và đáp lại những lời đề nghị, yêu cầu đó như thế nào. Họ cần biết rằng, có thể họ không có câu trả lời cho câu hỏi của khách hàng nhưng họ sẽ tìm ra nó và sẽ có kết quả sớm nhất. Dịch vụ khách hàng là một văn hóa và một yêu cầu cần phải thấm nhuần trong toàn công ty. Chiến lược 5: Hơn cả lời hứa và hơn cả những gì thực hiện Hãy chắc chắn rằng bạn cung cấp những dịch vụ khách hàng thực sự. Trên thị trường ngày nay, dịch vụ trở thành từ thông dụng ở mọi công ty nhưng quan trọng là bạn phải hiểu được rằng dịch vụ khách hàng hiện tại là sự mong đợi được đáp ứng chứ không phải được xem như là giá trị thêm vào. Dịch vụ khách hàng không còn là sự khác biệt chủ yếu nữa nhưng nếu vượt trên tất cả nhiệm vụ bắt buộc thì bạn sẽ vượt trội trên thị trường. Gần đây tôi có nghe một câu chuyện về chủ cửa hàng bán lẻ (bán quần áo phụ nữ), một lần tình cờ cô ấy được khách hàng trong cửa hàng tìm kiếm nơi nơi phục vụ đồ ăn. Thay vì giới thiệu đến nơi khác cô ấy đã gọi điện một nhà hàng địa phương để phục vụ tận nơi cho khách hàng của mình – như vậy, cố ấy đã vượt xa hơn những điều cơ bản. Nhưng nếu muốn có được cơ hội tuyệt vời để làm được hơn những gì đã hứa và thực hiện thì chính bản thân công ty cũng phải khác với đối thủ cạnh tranh và phải là duy nhất, đặc biệt cần sáng tạo và cá nhân hóa dịch vụ cho từng khách hàng. Mặc dù, khó có thể đáp ứng được yêu cầu của tất cả mọi người nhưng nếu đưa ra được các dịch vụ cá nhân, bạn sẽ phát triển thương hiệu nhanh chóng. Chiến lược 6: Tạo sự dễ dàng cho khách hàng hợp tác với doanh nghiệp Hãy tạo mọi điều kiện khi khách hàng đến giao dịch với công ty. Yêu cầu nhân viên thực hiện theo những tiến trình và các kênh phối hợp để khác hàng có thể trải nghiệm chính xác những gì họ có. Hãy sửa lại quy trình làm việc xét thấy cần thiết và luôn phải hiểu khách hàng, hiểu dịch vụ của bạn được đánh giá như thế nào qua con mắt của khách hàng. Sản phẩm/dịch vụ khách hàng yêu cầu có được dễ dàng thực hiện không? Có vấn đề gì xảy ra không? Có dễ kiểm tra tình trạng không? Có phải chờ lâu không? Có chắc chắn khi mỗi lần khách hàng gọi điện không? Tất cả những câu hỏi quan trọng đó bạn phải trả lời được để tạo sự thuận lợi nhất cho khách hàng khi mua sản phẩm của mình. Bằng cách dành thời gian nghiên cứu và áp dụng những chiến lược trên, bạn sẽ tạo được một văn hóa chuẩn trong dịch vụ khách hàng. Và bằng cách đào tạo nhân viên hiểu được những mong muốn của khách hàng và cung cấp cho họ hướng đi đúng, bạn không chỉ có được nhiều khách hàng trung thành mà còn tạo nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hãy nghĩ đơn giản thế này, một khách hàng hài lòng, anh ta sẽ nói cho những người bạn của anh ta về sản phẩm. dịch vụ của bạn. Đó chính là cơ hội để xây dựng thương hiệu hàng đầu! Nguồn: Người Lãnh Đạo | |
Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2009
Những mối nguy của thời đại chúng ta
Những mối nguy của thời đại chúng ta | |
| André Maurois - Nguyễn Hiến Lê dịch Thư ngỏ tuổi đôi mươi - NXB Văn hóa Thông tin | |
Nhiều người trạc tuổi tôi thường hay ca tụng thời thanh xuân của họ và chê bai thanh xuân của bạn. Họ nói: "Thử tưởng tượng cảnh an lạc của người Pháp trước năm 1914. Sau chiến tranh 1870, họ không bị một chiến tranh nào khác, mà chiến tranh 1870 so với những cuộc chém giết của chúng ta ngày nay chỉ là một trò con nít, không có những cuộc tàn sát lớn lao như ngày nay. Đôi khi họ cũng nói tới một chiến tranh trong tương lai nhưng không tin rằng sẽ có. Khí giới hồi đó chỉ nguy hại cho các chiến sĩ thôi: thường dân ở xa mặt trận có thể tin rằng được sống yên ổn gần như hoàn toàn. Đồng quan hồi đó vững giá; một Mỹ kim ăn năm quan, một Anh bảng ăn hăm lăm quan. Cơ hồ như đó là do một mệnh Trời bất di bất dịch. Ông cha chúng ta lập những dự - tính tỉ mỉ cho tương lai của gia đình. Thuế má, tiền mướn nhà ở vào cái mức vừa phải. Hạch tâm không hung hăng như ngày nay: thể đặc ở yên trong cái thể đặc. Hầu hết các thiếu nữ giữ được trinh tiết cho tới khi cưới. Trong các gia đình nông dân, kỹ nghệ gia, thương gia, con cái kế tiếp nghề của cha. Các nghề làm ăn trong nhà giữ được truyền thống. Ngày nay thì..." Tôi, tôi cũng thích hồi đầu thế kỷ này lắm; lúc đó tôi còn trẻ và tin tưởng. Nhưng tôi thấy rõ rằng bức họa tình tứ chất phác đó không đúng sự thực. Hồi xưa một thiểu số tin chắc ở tương lai của mình còn đại chúng thì không có gì bảo đảm cho tuổi già và những lúc đau ốm cả. Đại đa số người Pháp thời đó sống cực khổ, thiếu tiện nghi, thiếu thảnh thơi, làm việc từ sáng tới tối, tháng này qua tháng khác, không được nghỉ ăn lương. Cái ảo tưởng là được yên ổn không có chiến tranh đâu có diệt được sự đe dọa của chiến tranh, như ta đã thấy hồi thế chiến thứ nhất. Thuế trực thu tuy nhẹ thật nhưng chính phủ không lãnh những trách nhiệm mà đáng lý ra phải lãnh, những người nghèo khổ, đau ốm, già nua khốn khổ hơn ngày nay. Không, trong cái dĩ vãng của chúng ta, ta không thấy một thời đại hoàng kim nào cả. Thực ra tôi không tin rằng có một hoàng kim thời đại; loài người sẽ vĩnh viễn là loài người nghĩa là có lẫn lộn nhiều vị anh hùng và những con vật hung dữ. Luật thiên nhiên không hề thay đổi. “Tuyết năm xưa cũng có màu trắng như tuyết ngày nay. Nó cuốn từng đám trong không trung cũng nhẹ nhàng như ngày nay rồi rớt xuống đất cũng lặng lẽ như ngày nay”. Các dân tộc khi già rồi có cảm tưởng tiếc thời đã qua. Người ta nhắc lại "Cái thời đại đẹp đẽ xưa kia". Người ta bảo: "Cái thời đẹp đẽ xưa kia. người ta biết yêu; cái thời đẹp xưa kia, thanh niên có lễ độ, không ăn bận lố lăng, kiểu cao bồi". Lại đó sai. Tôi không bảo rằng ngày nay cái gì cũng tốt đẹp. Nhưng sự thực là cái gì thì thời nào cũng đã xấu xa cả. Đàn bà hồi xưa có đức hạnh hơn ngày nay ư? Thiếu nữ hồi xưa không phóng túng như ngày nay ư? Đâu có. Không thời nào mà phong tục lại đồi trụy như thời Louis XV. Hồi xưa thế giới không sống trong cảnh lo lắng như ngày nay ư? Có chứ, sao không? Những chiến tranh tôn giáo ở thế kỷ XVI cũng kinh khủng theo cái lối thời đó như những chiến tranh ý thức hệ của thế kỷ XX này. Phải chấp nhận cái hiện tại và dung nạp cái nó xảy tới. Tôi sống ở thời đại phi cơ; tôi không nhớ tiếc cái thời lọc cọc chiếc xe ngựa... Không có có tuyết thời xưa. Chỉ có tuyết và màu trắng của nó thôi". Suy đi tính lại thì tôi lấy làm sung sướng được sống cái thời đại lạ lùng này của chúng ta. Trong nửa thế kỷ, loài người đã phát kiến được nhiều bí mật của hóa công hơn là tổ tiên chúng ta trong hai chục ngàn năm; loài người đã chinh phục được những nguồn năng lực phong phú tới nỗi thành ra gần như quá đỗi mạnh mẽ; loài người đã thám hiểm được vũ trụ và bơi được trong khoảng hư không giữa các tinh tú; loài người đã bay được trên mặt đất từ tỉnh này tới tỉnh khác, mau gấp ba tốc độ của âm thanh; đã tạo những cái máy biết tính và tổ chức khéo hơn, mau hơn bộ óc, những kỳ công đó vừa thích thú vừa đáng khâm phục đấy chứ. Thế hệ của bạn sẽ tiếp tục tiếp trên con đường phát minh đó với tốc độ gia tăng. Bạn còn phải làm tất cả mọi việc: làm cho môn sinh vật học được tinh xác như môn vật lý học, tháo gỡ các bộ máy của di truyền, biến môn kinh tế học thành một khoa học tinh xác. Bạn không thiếu công việc đâu. Không bao giờ thiếu cả. Chúng ta càng tìm tòi ra được nhiều lại càng biết rằng chúng ta chẳng biết gì cả. Với lại chỉ tìm tòi được thôi thì cũng không đủ; còn phải như Valéry nói, đem mình bổ xuyết vào cái mình tìm ra được. Chúng ta chưa tiêu hóa được những phát minh mới rồi của chúng ta. Bạn biết câu này cửa Jean Rostand đấy chứ. "Loài người phải học cách dùng quyền năng của mình". Quyền năng chứ không phải là vạn năng đấy nhé. Vì chúng ta không nên phóng đại làm gì. Nhảy được từ mặt đất lên cung trăng, hay là lên được Hỏa tinh hay Kim tinh, tới các ngôi sao chổi, tới các giải ngân hà đi nữa, kể ra cũng là rất mực tài tình và can đảm thật đấy, nhưng so với vũ trụ thì có đáng kể là bao đâu. Nếu một cư dân nào đó ở trên một điện tử (électron) tìm được cách đi từ điện tử này qua điện tử bên cạnh, thì tất cả các dân ở "xứ điện tử" đó đều hoan hô cho là một phép mầu. Nhưng có gì đâu? Cái đó xảy ra ở cái kích thước vô cùng nhỏ bé, và so với vũ trụ thì có giá trị gì đâu? Chúng ta đã nhảy được được bốn bước trong khoảng hư không ư? So với không gian vô cùng, bốn bước đó có nghĩa là gì không? Chúng ta tưởng rằng đã biết rõ những chuỗi phần tử nguồn gốc của di truyền, nhưng mỗi phần tử đó cũng lại là cả một thế giới và chúng ta không biết trong thế giới đó cái gì. Hai cái vô cùng lớn và vô cùng nhỏ cửa Pascal vẫn còn ở ngoài tầm hiểu biết của ta. Chúng ta không phải là thần thánh. Chúng ta mới chỉ thành ra mạnh mẽ dữ dội theo cái kích thước của chúng ta và trên cái giọt bùn của chúng ta. Bây giờ ta còn phải làm sao cho xứng đáng với sức mạnh đó. Chúng ta đã có những phương tiện vật chất để tiêu diệt văn minh và nhân loại; chúng ta chưa có những phương tiện tinh thần để chống lại sự tiêu diệt đó. Có những dân tộc vẫn tiếp tục đưa những hỏa tiễn liên lục địa ra hăm dọa dân tộc khác và không có gì chứng tỏ rằng họ không mỗi ngày một leo thang rồi rốt cuộc tận diệt nhân loại để giữ thể diện của họ. Một trong những nhiệm vụ của thế hệ các bạn là ngăn những trò trẻ con, điên khùng đó lại, nếu các bạn có thể làm được. Bọn anh hùng của Homère tha hồ chửi rủa nhau, điều đó ta có thể hiểu được: họ đơn chiến với nhau để giải quyết vấn đề vinh dự của họ. Bọn vua chúa ở thế kỷ XVIII dùng khí giới để tranh giành đất đai với nhau, điều đó ta cũng có thể tạm chấp nhận cho đi (mặc dầu họ vẫn đáng trách): họ chỉ dùng bọn chuyên sống về nghề đánh giặc. Nhưng các nhà cầm quyền ở thời đại chúng ta mà sẵn sàng gây một chiến tranh hạch tâm, thì điều đó không sao tha thứ được. Không có một cuộc gây lộn nào đang làm cho cả trăm triệu người phải chết, mà một cuộc gây lộn về danh từ lại càng không xứng đáng nhất. Mà chính là những danh từ những lòng tự ái bị thương tổn nó chia rẽ chúng ta nhiều nhất. "Quyền lợi thì luôn chịu hòa giải, mà thiên kiến thì không." Ngày nay Đông và Tây đã giao dịch với nhau và có lợi cho cả hai bên. Họ thỏa thuận với nhau một cách khá dễ dàng về các hợp đồng thương mại. Những chế độ chính trị, kinh tế của họ tuy khác nhau nhưng muốn tiến lại gần nhau. Sự thực thì phương Tây, khu vực của sự tự do kinh doanh, đa chấp nhận vô số sự can thiệp của chính phủ; mà phương Đông cũng đã dung túng, khuyến khích nữa là khác, nhiều phương pháp của phương Tây trong chính sách kinh tế. "Nhãn rượu không làm cho ai say hoặc hết khát cả". Tôi biết rằng các vị chỉ huy cả hai bên khó mà từ bỏ những cuộc cãi lẫy đó được. Họ nhờ vậy mới sống mà! Có gợi lên hình ảnh của con quỷ cừu địch thì họ mới có lý lẽ để nắm quyền uy chứ, mới làm cho quần chúng hóa ra cuồng tín, mới nung mối căm thù cho đỏ rực lên chứ! Nhưng thỉnh thoảng văn có những luồng lửa đảo chiều. Nhiệm vụ của các bạn, ở phương Tây cũng như ở phương Đông, là trỏ cho người ta thấy rằng có thể cai trị dân mà chống những cuồng tín, nói cho đúng hơn, là không cần những cuồng tín. Ngay từ bây giờ, vài vị nguyên thủ có nhãn quang cao và thực tế đã hiểu điều đó. Họ từ bỏ cái chính sách chửi rủa mạt sát nhau. Nhưng trên thế giới vẫn còn nhiều kê phát điên lên và nhiệm vụ của các bạn không phải dễ đâu. Các bạn phải cố thắng được các danh từ, đó là vấn đề sinh tử của nhân loại. Trong một khu vực khác hẳn và ít nguy hiểm hơn, khu vực nghệ thuật, các bạn cũng phải chiến đấu với các danh từ. Trong văn học, thời đại nào cũng có phái Cổ và phái Kim, phái Cổ điển và phái Lãng mạn, họ bài xích lẫn nhau. Tuy nhiên vẫn có sự đồng tình mặc nhiên và phổ biến để giữ các đại văn hào cửa mọi thời đại ở các địa vị chính đáng của họ. Hưng tôn trọng Homère, Rabelais, Montaigne, Corneille. Ngày nay người ta nói quyết với chúng ta rằng những hình thức cổ đã lỗi thời rồi, rằng tân hội họa đã đưa đám các nền hội họa cũ rồi, rằng những tiết điệu truyền thống của khoa kiến trúc không còn hợp với các thành thị mới nữa, rằng tân tiểu thuyết đã chôn chặt các phái tiểu thuyết khác rồi, rằng bây giờ mà còn viết theo các lối kể chuyện thì là mắc một tội lớn, rằng không ai còn đi tả tình nữa mà chỉ tả dục thôi... Toàn là những danh từ cả. Cái nguy cơ của thời đại chúng ta, không phải là ở chỗ có vài kẻ bất thường phiêu lưu, vài quân ăn cướp du côn. Bọn nhớp nhúa đó luôn luôn vẫn có ở ngoài lề mọi nền văn minh và đôi khi có những đại nghệ sĩ từ đám bùn trồi lên. Cái nguy cơ đặc biệt của chúng ta là có những nhà văn thành thực tin rằng bênh vực sự vô luân, sự nhu nhược, bênh vực luật rừng rú và nghệ thuật dị hình dị dạng là có một thái độ can đảm. Mà như vậy đâu phải là anh hùng; chỉ là một thời thói xu thời tầm thường nhất. Cái nguy cơ, như một người đồng thời với các bạn đã nói, là "người ta đã đưa ra vài cuộc âm mưu để thay một học thuyết, đưa ra một thuật chấm câu để thay một văn phái, đưa ra những tu sĩ theo thuyết phân tâm để thay một sự phục hưng tôn giáo, đưa cái vô lý ra để thay cái thần bí, và cái tiện nghi để thay cái hạnh phúc". Nguy cơ nữa đáng sợ hơn là công chúng không còn tỏ ra đủ sức phản ứng lại. Ở thế kỷ XVII các người ham mỹ thuật và văn chương còn có thị hiếu riêng, khá vững vàng, ít sai lầm. Có thể rằng họ biết ngắm điện Versailles mà không hiểu được cái đẹp của một giáo đường kiểu Gô tích hoặc một tượng cổ. Molière cho ta biết rằng trong hạng người đó có một chàng Vadius và một chàng Trissotin (l) khen những cái bậy bạ cũng như cháu chắt họ ngày nay. Nhưng ít gì người ta cũng khó nếu không phải là vô phương mà dẫn dụ họ để họ trầm trồ khen một bài gồm toàn những tiếng đưa ra một cách lếu láo, chẳng có ý nghĩa gì cả, hoặc ca tụng một bức tranh, trên đó họa sĩ, trong một cơn điên, nguệch ngoạc đưa cây cọ mà phết màu. Chúng ta đã thấy những cái điên khùng không tưởng tượng nổi. Nhật báo Anh đã đăng tin một nhà chơi dương cầm vô danh quảng cáo rầm rộ rằng sẽ có một buổi tấu nhạc yên lặng. Đúng ngày đó, phòng chật ních thính giả. Bậc diệu thủ im lặng ngồi trước mặt bàn, làm bộ chơi đàn nhưng dây đàn đã gỡ hết cho nên cần đàn không gây một âm thanh nào cả. Thính giả liếc trộm các người ngồi bên xem có nên phản kháng không. Nhưng các ông ngồi bên cứ thản nhiên, cử tọa đều kiên nhẫn, ngồi yên. Sau hai giờ yên lặng buổi tấu nhạc chấm dứt. Nhạc sĩ đứng dậy chào thính giả. Cử tọa nồng nhiệt vỗ tay khen. Hôm sau, trên vô tuyến truyền hình, nhạc sĩ im lặng đó kể lại câu chuyện và kết: "Tôi muốn biết xem cái ngu xuẩn của con người tới mức nào; nó thật vô biên". Tôi thì không nói "cái ngu xuẩn" mà nói "cái nhu nhược" của con người. Những thính giả đó biết rằng họ không nghe thấy gì cả, nhưng họ sợ rằng nếu phản kháng thì không hợp thời. Jean Cocteau bảo: "Công chúng đã từng bị đập quá đến nỗi họ tự tát vào má mình chứ không vỗ tay để khen". Cái thói làm ra vẻ tán thưởng mà sự thật chẳng thích mà cũng chẳng hiểu gì cả, cái thói đó gọi là thói "đua đòi chuộng mốt". Nhiệm vụ của các bạn không phải là trừ sạch cái thói đó cho cái thời đại của bạn (vì vô phương trừ được) mà là ngăn bớt những tai hại của nó lại, và chống lại nó. Coi chừng đấy! Tôi không khuyên bạn tự chối mọi hình thức mới của nghệ thuật đâu. Sự khích động là một yếu tố của nghệ phẩm. Cái mà một thời đại cho là không hiểu nổi thì thời đại sau cho là thường, là sáo. Các nhà trong phái ấn tượng đã bị chế giễu, la ó, và sống trong cảnh nghèo khốn trong một thời khá lâu; những bức họa của họ ngày nay làm vinh dự cho các Tàng cổ viện. Jules Lemaitre mỉa mai Verlaine, Mallarmé; Sainte Beuve cho Baudelaire là thanh niên lễ phép, ăn mặc bảnh bao, giá đừng làm thơ thì hơn. Đôi khi những kẻ hôm trước bị bài xích thì hôm sau thành những bậc Thầy. Nhờ phái siêu thực một thời bị chê cười, la ó mà chúng ta mới có Aragon mà tác phẩm thật tuyệt. Michel Butor Nathalie Sarraute, Robbe Grillet, Claude Si mon, Clauđe Mauriac, có nhiều tài năng vượt khỏi lý thuyết của họ. Tôi chỉ xin bạn hai điều mà thôi. Đừng khinh những bậc thầy của thời trước: họ đã lưu danh được tới ngày nay là họ đáng được lưu danh. Và bạn chỉ nên ái mộ những hình thức mới nếu thực tâm bạn thấy nó đẹp. Dư luận không phải là một người hướng dẫn tốt, cũng không phải là một người hướng dẫn xấu. Nó không hướng dẫn, nó biến chuyển bất thường. Bạn cứ theo cái thị hiếu của bạn với một thành kiến tốt đối với những nhà mà vô số thế hệ trước đã tán thưởng. (l) Đều là những nhân vật trong hài kịch Les femmes savantes của Molière. Nguồn: Thư ngỏ tuổi đôi mươi - NXB Văn hóa Thông tin | |
Người cá xuất hiện tại Israel
Người cá xuất hiện tại Israel | ||
| | ||
| Litte Mermaid (Người cá nhỏ bé), một bức tượng, ngồi trên một tảng đó tại bên cảng Copenhagen, Đan Mạch. Nhà điêu khắc Edvard Eriksen đã cho ra đời bức tượng năm 1913. (Ảnh: stockxpert) Người cá, được cho là lai giữa loài cá và một cô gái trẻ, chỉ xuất hiện vào lúc chiều tàn. Người cá biểu diễn một số bài cho người xem trước khi biến mất vào ban đêm. Một trong những người đầu tiên nhìn thấy người cá, Shlomo Cohen, cho biết: “Tôi đang đi cùng bạn bè thì đột ngột chúng tôi thấy một phụ nữ nằm trên bãi cát. Đầu tiên tôi tưởng cô ta chỉ là một người tắm nắng bình thường, nhưng khi chúng tôi đến gần cô ta nhảy xuống biển và biến mất. Chúng tôi đều kinh ngạc vì cô ta có đuôi”. Và việc mọi người đổ đến bờ biển để chứng kiến người cá bắt đầu từ vài tháng trở lại đây. Giải thưởng 1 triệu đô Ban du lịch của thị trấn tất nhiên rất vui sướng với danh tiếng mới có. Với sự gợi ý của thị trấn Inverness, Scotland, chính quyền Kiryat Yam đã treo giải thưởng 1 triệu đô la cho người đầu tiên chụp được ảnh của sinh vật này. Phát ngôn viên của thị trấn Natti Zilberman cho rằng giải thưởng này hoàn toàn xứng đáng, “Tôi tin rằng nếu thực sự có người cá thì rất nhiều người sẽ đến với Kiryat Yam, và chúng tôi sẽ kiếm đuợc rất nhiều tiền hơn là 1 triệu đô la”. Tất nhiên, nếu người cá không tồn tại – có thể đó là một trò lừa bịp, một ảo ảnh quang học, hoặc đơn giản là nhận thức sai về một loài vật nào đó – thì tiền thưởng của thị trấn sẽ không hề mất đi, trong khi đó những lợi ích về kính tế từ những dòng khách du lịch cố gắng chụp ảnh người cá sẽ tồn tại về lâu về dài. Những gì con người nhìn thấy vẫn không rõ ràng, nhưng sức mạnh của trí tưởng tượng thì quả là phi thường. Nhận biết động vật trong nước vốn đã nhiều vấn đề, vì những người chứng kiến chỉ nhìn thấy một phần nhỏ của sinh vật. Khi bạn thêm vào yếu tố như ánh sáng kém vào buổi chiều tà và khoảng cách, rõ ràng việc nhận biết một sinh vật được biết đến đã khó chứ đừng nói một sinh vật thần thoại.
Người cá từ lâu đã làm mê hoặc những người đi biển. Có hàng chục câu chuyện và tuyên bố về việc nhìn thấy người cá. Hầu hết đều là tưởng tượng và thần thoại, ví dụ như câu chuyện “thật” về những phụ nữ xinh đẹp cưới các thủy thủ nhưng sau đó bị phát hiện là những người cá biến hình (như trong phim “Splash”). Những báo cáo khác đã có từ nhiều thế kỷ trước, và thường không hề có bằng chứng rõ ràng. Ví dụ. thuyền trưởng Richard Whitbourne khẳng định rằng ông đã nhìn thấy người cá tại bến St. James của Newfoundland năm 1610. Một câu chuyện khác, từ năm 1930 tại Scotland, kể rằng cậu bé đã giết một người cá bằng cách ném đá vào nó; sinh vật này trông giống như một đứa trẻ 3 hoặc 4 tuổi, nhưng có một cái đuôi cá hồi chứ không phải chân. Những người làng đã chôn sinh vật này trong một quan tài nhỏ. Người cá của P.T. Barnum Những kẻ lừa bịp đã tận dụng câu chuyện về người cá để thỏa mãn sở thích của công chúng; và thực tế chưa ai bị phát hiện chỉ là một phiền phức nhỏ. Chuyên gia biểu diễn P.T. Barnium đã giới thiệu người cá cho đám đông sửng sốt năm 1840: “người cá FeeJee” nổi tiếng của hắn, thực tế chỉ là một sản phẩm giả tạo. Đầu và thân mình của một con khỉ nhỏ được nối với thân và đuôi của một con cá. “Người cá” này thật sự kỳ dị và lạ lùng – tất nhiên là chưa ai từng thấy trước đây – nhưng không giống chút nào so với những băng rôn và biển quảng cáo về một phụ nữ đẹp, bán khỏa thân. Những trường hợp giả người cá khác xuất hiện khá nhiều trong lịch sử. Một số chỉ là lợn biển đuợc ăn mặc giống con người và được trưng bày để thu lợi nhuận. Liệu người cá Israel là có thật, hoặc là một trò lừa bịp, hoặc chỉ là một lỗi lầm ngớ ngẩn, thì thực tế của việc tìm thấy một người cá có thể hoàn toàn khác so với nhiều người tưởng tượng, như những gì một bài hát của ban nhạc Great Big Sea thể hiện. Một trong những bài hát nổi tiếng của họ, với tên gọi “Người cá”, kể câu chuyện về một thủy thủ cô đơn, tìm cách tán tỉnh một người cá: “Tôi yêu nàng với cả trái tim/ Nhưng tôi chỉ yêu phần bên trên/ Tôi không hề yêu cái đuôi!”. | ||
| G2V Star (Theo LiveScience) |
Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009
7 xu hướng marketing “hot” vào năm 2009
7 xu hướng marketing “hot” vào năm 2009 | |
| Mai Ca biên tập từ bioinformant Marketingchienluoc | |
Những xu hướng này được nhận định sẽ hot ở nước Mỹ nhưng chúng cũng rất cần thiết cho mọi nhà marketing ở những nước khác vì xu hường toàn cầu hóa ngày nay. 7 xu hướng marketing này xuất phát từ 3 xu hướng chính trong xã hội Về xu hướng khách hàng: Theo dữ liệu từ Census Bureau thì Miền Nam nước Mỹ có tỉ lệ gia tăng người châu Á lớn nhất 31%, tiếp theo Trung Tây là 24%, Đông Bắc là 23%, và phía Tây 19%. Và chính bộ phận dân số châu Á này sẽ là những khách hàng tương lai qua trọng. Do đó những tiếp thị cần phải có những người đại diện bán hàng mà có khả năng tiếp xúc với nhóm khách hàng này. Đội ngũ đại diện bán hàng phải biết được những sự khác biệt về văn hóa để tìm ra phương pháp giao tiếp hợp lý và phong cách bán hàng cho phù hợp. Hãy thay đổi dịch vụ của công ty bạn để thu hút thị trường đang phát triển này. Chắc chắn công việc kinh doanh của bạn sẽ phát đạt. Bạn muốn sản phẩm, danh tiếng… của công ty được nhiều người biết đến một cách nhanh nhất thì bạn cần xác định ba nhóm người hay bàn bạc, nói chuyên về trải nghiệm sản phẩm hay kinh doanh với người khác. Nhóm thứ nhất là những người phụ nữ thích tán gẫu. Họ thường đưa ra lời bình phẩm hay giới thiệu sản phẩm. Nhóm thứ hai là những nhà khoa học làm việc toàn thời gian. Họ cũng thường bàn tán về những nhu cầu của họ hơn là những người làm bán thời gian. Thứ ba là những người làm công tác nghiên cứu mà kiếm được và kiếm hơn 100.000 đô. Họ sẽ giành thời gian để tính đến việc mua sắm hơn là những người kiếm tiền ít.
Theo nghiên cứu của tập đoàn Montana, chỉ có 26% những người tìm kiếm thông tin sản phẩm sử dụng các catalogue. Thay vào đó là 52% nói rằng họ tìm kiếm công ty cung cấp dịch vụ hay sản phẩm họ cần thông qua công cụ tìm kiếm. Theo Jiives “Multiple Media Analysis thì ở Mỹ 73% nhân viên lướt web trên điện thoại, gần 38% nghe radio khi làm việc online. Và xu hướng tiếp cận truyền thông sẽ tăng lên rất nhanh do yêu cầu của công việc trong tương lai. Do đo người ta có xu hướng sử dụng các kênh truyền thông để thu hút và vươn đến khách hàng tương lai".
Người ta sẽ không đi hội họp hay công tác nhiều vì lý do an ninh và các chuyến bay thường xuyên bị hoãn. Thay vào đó các doanh nghiệp những cuộc hội thảo trực tuyến. Những người than dự hội thảo, hôi nghị trực tuyến có thể trao đổi với nhau hay lắng nghe bài thuyết trình bằng loa hay dây tai nghe. Tính hữu dụng của những web có chức năng tổ chức hội nghị hay hội thảo trực tuyến sẽ gia tăng và chi phí của web đó sẽ hạ thấp dần nếu nhu cầu tăng lên. Từ đó nhà tiếp thị sẽ giới thiệu sản phẩm của công ty họ trên những web như thế. Cho dù bạn chỉ bán hàng online hay thông qua các catalogue, điện thoại thì việc tìm kiếm online chắc chắn có một tác động lớn đến việc bán hàng của bạn. Trong số 8250 người khi được hỏi là có tìm hiểu thông tin sản phẩm trên mạng trước khi mua chúng không thì 88% nói có và họ thường xuyên làm như vậy. Do đó bạn cần chăm chút web của bạn hơn và làm cho nó sinh động, phóng phú.. hay bạn cũng nên quan tâm đến thông tin sản phẩm khi quảng cáo online trên các web. Thông tin sản phẩm phải tỏ ra thuyết phục những khách hàng tương lai và khách hàng của bạn. Theo nghiên cứu của iProspect and Jupiter, 62% người tìm kiếm click chuột vào web đầu tiên trong kết quả tìm kiếm. Nếu bạn muốn web của mình lọt vào top cao hơn thì bạn có thể tối ưu hóa nó bằng cách chèn những thông điệp quảng cáo hay từ khóa mà khách hàng bạn muốn tìm vào nội dung web và bạn nên kết nối với những web có tần số người vào mua hàng cao. Nguồn: Marketingchienluoc | |






