Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009

8x biến WC công sở thành... phòng riêng

0 nhận xét

8x biến WC công sở thành... phòng riêng

(Zing) - Mua được một căn nhà là “giấc mơ khó với” của nhiều người và đối với những sinh viên mới ra trường lại càng trở nên xa xỉ.

Và khi tiền thuê nhà cũng là con số ngất ngưởng, một 8X Trung Quốc đã phải chọn giải pháp “biến WC công sở thành nơi ở".

Biến WC công sở thành... phòng riêng
Bức ảnh được đăng trên mạng

Những ngày gần đây, bức ảnh về "căn phòng WC" của một 8X đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của cư dân mạng. Trên bức ảnh là phần chú thích của cô gái trẻ “Đây là căn buồng đựng đồ lặt vặt kiêm WC của công ty tôi (hiện giờ là chỗ ở của tôi), căn buồng được thiết kế khá ổn, rộng chừng 7m2, trong buồng còn có bồn rửa tay và toa-lét. Hình như ban đầu căn phòng này vốn được thiết kế để làm phòng nghỉ ngơi. Tuy không có cửa sổ, tắt đèn đi sẽ tối om nhưng 4 bức tường xung quanh đều là gạch men trắng sạch sẽ, lại có cả 1 tấm gương to. Quan trọng nhất là nó được công ty cấp miễn phí.

Rất nhiều cư dân mạng đã đánh giá cao ý tưởng này. Nickname Feng Fei Yang nhận xét: “Rất hay, bài trí khá ổn, có một chỗ ấm áp cho riêng mình như vậy còn gì bằng”. Một nickname khác hào hứng: “Khá ổn, bét ra vẫn hơn thuê nhà trọ 1 người ở, hơn nữa tất tần tật các thủ tục đều được giải quyết ngay tại chỗ, thật tiết kiệm”.

Nhưng cũng có một số người “lên án” phương thức trên: “Ở thế thì ăn cơm kiểu gì? Cũng ăn tại đấy luôn à? Vấn đề là ngồi ăn trong đó cứ chằm chằm vào cái bồn toa-lét thấy có vẻ không bình thường nhỉ?” , “Một mình hy sinh như thế còn được, sau này có gia đình rồi sống sao nổi?”, “Xin hỏi là bạn ý đi vệ sinh khỏi cần xuống giường đúng không?”…

Rồi có người kết luận: “Các bạn cứ tranh luận làm gì vậy, bây giờ kiếm việc làm khó biết nhường nào, có một chỗ ở là tốt lắm rồi”.

Trước thực trạng trên, một chuyên gia Kinh tế của Trung Quốc cho biết: “Tôi ủng hộ dự án những căn nhà nhỏ bởi có thể đáp ứng thêm được nhu cầu của rất nhiều người. Như vậy còn giảm được gánh nặng mua nhà và áp lực cuộc sống cho số đông, nhất là với những người trẻ”. Còn về hiện tượng mà bài viết đưa tin, ông nhận xét: “Đây chỉ là hình thức ký túc 1 người đơn giản, không có không khí gia đình. Nhà ở và gia đình cần phải hài hòa, gắn bó với con người, những người trẻ cô đơn hay bôn ba lao động bên ngoài rất khó cảm nhận điều đó”.

TIGÔN

Theo bandao

Hà Nội: 7.200 ha đất "treo" cùng dự án

0 nhận xét
Hà Nội: 7.200 ha đất "treo" cùng dự án


Đất bỏ hoang do dự án treo tại Hà Nội - Ảnh: VNN.

505 dự án với tổng diện tích trên 7.200 ha đã bị phát hiện "treo" dưới nhiều hình thức, theo báo cáo của UBND thành phố Hà Nội.

Số dự án "treo" nói trên chiếm 15% trong số 3.401 dự án do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất tại Hà Nội trong vòng 6 năm, từ 1/1/2003 đến 31/12/2008.

Trong số đó, 294 dự án (tổng diện tích gần 3.500 ha) đã có quyết định thu hồi đất nhưng chậm triển khai trong công tác giải phóng mặt bằng; 48 dự án (tổng diện tích 131,5 ha) không sử dụng đất 12 tháng liền kể từ khi bàn giao trên thực địa; 39 dự án (tổng diện tích trên 425 ha) chậm 24 tháng so với tiến độ dự án được duyệt; 26 dự án (tổng diện tích 7,32 ha) bị chuyển nhượng trái pháp luật, lấn chiếm, tranh chấp, sử dụng sai mục đích và 98 dự án (tổng diện tích 3.186 ha) thì chủ đầu tư chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

Đáng chú ý, ngoài những nguyên nhân vẫn được nhiều chủ đầu tư biện minh cho sự chậm trễ của mình như do thay đổi, bổ sung chính sách làm phát sinh khó khăn; vướng mắc khi giải phóng mặt bằng; một số dự án phải dừng lại để chờ quy hoạch chung Hà Nội mở rộng, thì trách nhiệm chính lại do đơn vị có trách nhiệm đã thẩm định chưa đầy đủ năng lực của chủ đầu tư.

Nhiều trường hợp trong số các dự án treo nói trên là do chủ đầu tư là doanh nghiệp nhỏ, năng lực yếu nhưng lại được giao dự án qui mô lớn. Một số khác đủ điều kiện khởi công nhưng lại xin điều chỉnh cục bộ quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất để nâng cao hiệu quả đầu tư đã khiến dự án bị đình trệ. Một số dự án khi triển khai không chuẩn bị đủ quỹ nhà, đất tái định cư, nhất là các dự án kinh doanh không sử dụng vốn ngân sách, các chủ đầu tư không chủ động tự lo quỹ nhà tái định cư mà chỉ trông chờ vào quỹ nhà của Thành phố. Một số dự án không sử dụng đất trong 12 - 24 tháng do chủ đầu tư chưa chuẩn bị đủ thủ tục và điều kiện để khởi công xây dựng công trình, chủ yếu là thiếu nguồn vốn để triển khai thực hiện dự án.

Gần trăm dự án "treo" khác là do thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chậm; chủ đầu tư đề nghị được thực hiện nộp tiền sử dụng đất theo tiến độ thực hiện dự án; một số chủ đầu tư chưa nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ về tài chính với Nhà nước, còn tình trạng nợ đọng và chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính…

Báo cáo Hội đồng Nhân dân thành phố về hàng loạt dự án "treo" này, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Hồng Khanh cho biết, từ năm 2001 - 2005, thành phố đã quyết định thu hồi đất hoang, sử dụng sai mục đích của 67 đơn vị với tổng diện tích 59,73 ha.

Sáu tháng đầu 2009, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội mới chỉ thu hồi được một dự án "treo", khi ra quyết định thu hồi 402 m2 đất tại 15 - 17 Yên Phụ (quận Tây Hồ) do Công ty Du lịch Hà Nội để hoang hóa.

Song, đã có một số đơn vị khác vi phạm đất đai cũng bị lập hồ sơ thu hồi đất, như Công ty Khai thác công trình thủy lợi Gia Lâm với 6.900 m2 đất tại Sài Đồng (quận Long Biên), Công ty Vĩnh Hà - 4.302m2 đất tại Yên Viên (huyện Gia Lâm); HTX Nông nghiệp Mỗ Lao - 2.341m2 tại Mỗ Lao (quận Hà Đông), Công ty Cổ phần Đồng Tháp - 367 m2 tại 13 Hàng Tre và Hợp tác xã Công nghiệp Cổ phần Hoa Sen - 267m2 tại số 3 ngõ 124 Thụy Khuê...

Phụ nữ làm khoa học - khó khăn muôn nẻo

0 nhận xét
Phụ nữ làm khoa học - khó khăn muôn nẻo


Tại sao tỉ lệ phụ nữ đạt bằng tiến sĩ trong lĩnh vực toán và khoa học lại ít hơn nam giới? Câu hỏi này hiện vẫn chưa có lời giải thích đầy đủ. Liệu phụ nữ có được đối xử công bằng trong lĩnh vực được cho là của nam giới là toán và khoa học?

Nghiên cứu của Tổ chức khoa học quốc gia Mỹ cho biết, ngày nay, những người phụ nữ được giữ lại làm trợ giảng tại các trường đại học thường có cơ hội kiếm được việc làm cao hơn các đồng nghiệp nam.

So với số người làm luận án tiến sĩ trực tiếp thì số người làm trợ giảng ít hơn. Ví dụ trong ngành hóa học, từ năm 1999 đến năm 2003, tỉ lệ tiến sĩ là phụ nữ là 32% còn tỉ lệ trợ giảng là nữ giới chỉ chiếm 18%.

Người ta đã thực hiện một cuộc điều tra tại 89 viện nghiên cứu để thống kê về số lượng tiến sĩ và những đóng góp trong lĩnh vực sinh học, hóa học, xây dựng, điện, toán và vật lý.

Kết quả cho thấy, mặc dù chỉ chiếm số ít trong ngành toán học và khoa học nhưng số lượng phụ nữ có học vị cao đã tăng trong những năm qua. Năm 1995, tỉ lệ nữ giới làm trợ giảng cho các giáo sư toán học là 18,7% và có 7,6% giáo sư là phụ nữ. Đến năm 2003, các con số này đã tăng lên với 26,5% trợ giảng và 9,7% giáo sư.

Chỉ có một tỉ lệ nhỏ phụ nữ đạt được học vị Tiến sĩ về khoa học tự nhiên trong các viện trường đại học. (Ảnh: Scientificamerican.com)

Số tiền một nữ giáo sư kiếm được ít hơn 8% so với một đồng nghiệp là nam giới. “Phụ nữ vẫn gặp phải nhiều vấn đề khi họ làm việc trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ,” Phoebe Leboy, Chủ tịch Hiệp hội phụ nữ hoạt động trong ngành khoa học (AWIS), nói. Bà Phoebe Leboy còn là giáo sư sinh hóa học và đã từng giảng dạy tại Đại học Pennsylvania. Bà Leboy biết rất nhiều phụ nữ được hỏi đã trả lời rằng công việc nghiên cứu không dành cho họ.

Nếu vậy thì họ sẽ làm công việc gì? Điều tra của Chính phủ không bao gồm câu hỏi: phụ nữ sẽ làm gì khi họ từ bỏ việc nghiên cứu hoặc bị giữ lại ở mức trợ lý giáo sư, Giáo sư Sally Shaywitz, nói. Hiện bà đang là Chủ tịch Trung tâm dành cho những đứa trẻ mắc bệnh khó đọc và sáng tạo ở Yale, Mỹ. Bà Shaywitz chỉ trích: “Đây chỉ là cuộc nghiên cứu nửa vời của Chính phủ”.

Dựa trên nghiên cứu của AWIS, bà Leboy nhấn mạnh rằng trong số những phụ nữ có bằng tiến sĩ khoa học, rất ít người kiếm được công việc trong viện nghiên cứu. Đa phần họ phải làm những công việc khác như viết sách, biên tập hoặc quan hệ công chúng.

Với những khó khăn như: tài chính eo hẹp, mất nhiều thời gian và áp lực phải sớm hoàn thành, có vẻ như công việc nghiên cứu không phải là sự lựa chọn hấp dẫn. Bà Shaywitz gợi ý rằng các trường đại học nên đẩy nhanh quá trình công nhận trợ giảng trở thành tiến sĩ, vì nếu quá trình này kéo dài như hiện tại sẽ khiến nhiều người gặp khó khăn về vấn đề tài chính, thậm chí một số người có thể phải bỏ cuộc để đi kiếm tiền.

Bà cũng cho rằng cần phải thay đổi suy nghĩ: “Người phụ nữ muốn lập gia đình là một người yếu đuối”. Và nhấn mạnh rằng trường đại học và viện nghiên cứu phải là nơi tiên phong trong việc này.

Bà Leboy đồng ý với quan điểm “phải thay đổi suy nghĩ về phụ nữ trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học”. Bà cũng nhấn mạnh chúng ta nên bầu nữ giới vào những chức vụ lãnh đạo trong lĩnh vực khoa học, để tạo ra động lực và hình mẫu cho những cô gái trẻ.
Trịnh Vũ - Vietnamnet (Theo Scientificamerican.com