Thiền định theo hơi thở
Thiền định theo hơi thở
Anapana Sati
Dịch: Lê Văn Phúc
Thành kính tưởng niêm Đấng Thế Tôn,
Đấng Giác Ngộ Viên Mãn
Anapana Sati, thiền định theo hơi thở vào-ra, là chủ đề đầu tiên về thiền định, được Đức Phật thuyết giảng trong bài giảng Mahasatipatthana Sutta, Bài giảng vĩ đại về Nền tảng cuả tập trung tư tưởng. Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến việc thiền định này, vì nó là cử ngõ dẫn đến giác ngộ và Niết bàn được chư Phật quá khứ vận dụng làm nền tảng để đạt đến Phật tính. Khi Đấng Thế tôn ngồi dưới cội Bồ đề và quyết định không đứng lên cho đến khi đạt được giác ngộ, Ngài đã sử dụng anapan sati làm chủ đề thiền định. Trên cơ sở này Ngài đã đạt được bốn cảnh giới thiền, thấy được tiền kiếp, đạt đuợc căn nguyên cuả luân hồi (samsara) khởi phát tiếp dẫn tri thức nội tại tuyệt diệu, và vào lúc bình minh, trong khi trăm ngàn thế giói rúng động, ngài đã đạt đến trí tuệ vô hạn, giác ngộ viên mãn cuả Phật .
Nhân đây, chúng ta hãy cùng dâng lòng thành kính lên đấng Thế Tôn, người đã thành Phật độc nhất vô nhị vượt lên cả thế gian thông qua con đường thiền định anapana sati; Mong sao chúng ta trọn hiểu chủ đề thiền định này, với trí tuệ ngời sáng như vầng nhật nguyệt. Mong sao qua sức mạnh cuả trí tuệ này chúng ta sẽ đạt được cõi Nết bàn an lạc.
Văn bản nền tảng
Trước tiên chúng ta hãy nghiên cưú ý nghiã văn bản về anapana sati do Đức Phật thuyết giảng. Văn bản bắt đầu như sau:
“Này các tỳ kheo, một tỳ kheo đi vào rừng, hoặc đến gốc cây , hoặc nơi cô tịch, ngồi kiết già thẳng lưng, khởi phát tập trung về phiá trước,”
Điều này có nghiã là bất cứ người nào trong bốn hạng người đề cập trong bài giảng này - cụ thể là tỳ kheo (tu sĩ), tỳ kheo ni (nữ tu sĩ), upasaka (cư sĩ =người tu tại gia), upsika (nữ cư sĩ) - muốn thưc hành thiền định này, nên đi đến hoặc là nơi rừng vắng, hặc dưới gốc cây hẻo lánh, hoặc nơi ở một mình. Người ấy sẽ ngồi kiết già, giữ lưng thật thẳng, tập trung tư tưởng trước chóp muĩ làm mục tiêu thiền định
Nếu người đó hít vào hơi thở dài, người đó hoàn toàn ý thức về điều đó. Nếu người đó thở ra một hơi thở dài, người đó cũng hoàn ý thức về điều đó. Nếu nguời đó hít vào hơi thở ngắn, người ấy hoàn hiểu rõ điều ấy. Nếu người ấy thở ra ngắn, người ấy hoàn toàn hiểu rõ điều ấy.
“Người ấy thở vào thể nghiệm toàn thân, người ấy thở ra thể nghiệm toàn thân”: nghiã là với sự tập trung thường xuyên, người ấy thấy rõ lúc bắt đầu, khoảng giưã và lúc cuối cuả hai giai đoạn thở, hít vào và thở ra. Khi ngời ấy thực hànhtập trung tư tưởng quan sát hít vào, thở ra, người ấy làm cho hai chức năng hít vào, thở ra điều hoà lắng diụ an bình.
Đức Phật minh hoạ điều này bằng một ẩn dụ. Khi người thợ tiên tinh xảo hoặc người học nghề cuả anh ta tiến hành gia công một vật gì đó trên máy, người ấy toàn tâm toàn ý tập trung vào công việc : các động tác tiện lâu, tiện mau anh ấy hoàn toàn ý thức lâu hay mau. Tương tự như thế người thực hành thiền định hít vào hơi dài người ấy hiểu rõ điều ấy, người ấy thở ra hơi dài, người ấy hiểu rõ như vậy; và nhu vậy; nếu người ấy hít vào hơi ngắn, người ấy hiểu là nó ngắn và nếu người ấy thở ra ngắn, người ấy hoàn toàn biết nó là ngắn. Người ấy luôn ý thức, thấy rõ lúc bắt đầu, khoảng giưã và lúc kết thúc cuả hai chức năng hít vào, thở ra. Người ấy hiểu bằng trí tuệ sư điều hoà, lắng diụ, an bình cuả hai phương diện hít vào, thở ra này.
Bằng cách này hành giả tự thấu hiểu hai chức năng hít vào và thở ra trong chính bản thân mình và hai chức năng hít vào vào thở ra ở người khác. Hành giả cũng thấu hiểu hai chức năng hít vào và thở ra trong chính bản thân mình vàở người khác trong sư luân phiên qua lại chóng vánh. Đồng tời hành giả cũng thấu hiểu nguyên nhân hít vào thở ra, và nguyên nhân cuả sự ngừng thở và thở ra, và tứng lúc từng lúc phát sinh và ngưng hít vào, thở ra.
Thế là hành giả nhận ra rằng thâân thể này thực hiện hai chức năng hít vào, thở ra chỉ là xác thân, không phải là cái tôi bản ngã. hoặc là “TÔI”. Sự tập trung và trí tuệ này trở nên hữu ích trong việc phát triển sự tập trung và trí tuệ sâu hơn cao hơn, làm cho hành giả rủ bỏ được các khái niệm sai lầm về sự vật dưới dạng “TÔI” và “cuả tôi”. Thế là hành giả càng tinh vi trong cuộc sống với trí tuệ đối với xác thân này và không còn thâu tóm mọi vật trên thế gian với sư thèm muốn, vì cái tôi hay quan điểm sai lầm. Sống không ràng buộc, thong dong, thiền nhân nhẹ nhàng đi trên con đường đến Niết bàn trong sư chiêm nghiệm bản chất cuả thân xác này.
Đây là diễn lại ý có mở rộng đoạn văn trong Mahasatipatthana Sutta về anapana sati (thiền định theo hơi thở). Việc thiền định này đã được diễn giải mười sáu cách khác nhau trong các sutta khác nhau. Trong 16 cách ấy. cách đầu tiên đã được diễn giải tại đây. Nhưng bốn cách này đây là nền tảng cho 16 cách theo đó hành giả có thể thực hành.
Bước đầu thực hành
Giờ chúng ta nên tìm hiểu các giai đoạn đầu đối với việc luyện tập thiền này. Đầu tiên, Đức Phật đã chỉ ra nơi thích hợp để luyện tập anapana sati. Trong kinh, Ngài đề cập đến ba điạ điểm: rừng, gốc cây, nơi văng vẻ biệt lập. Nơi vắng vẻ bệt lập có thể là một túp lều yên tĩnh, một chỗ ở vắng bóng con người. Chúng ta cũng có thể xem thiền thất này là nơi hoàn toàn tịch lặng. Dù rằng có đông người ở đây như thế này, nhưng nếu ai nấy đều đều yên lặng tĩnh tâm thì nó vẫn đươc coi là nơi thanh vắng.
Đức Phật gợi ý những nơi ấy bởi vì để luyện tập anapana sati, tĩnh lặng là yếu tố thiết yếu.Thiền nhân khởi thuỷ sẽ thấy rằng nơi đó dễ tập trung tinh thần với anapna sati nếu như chỉ có sự yên lặng. Ngay cả nếu như không thể tìm nơi cô tịch hoàn toàn, thi người ta cũng nên chọn nơi vắng vẻ một mình (không bị quấy rầy).
Kế đến, Đức Phật giải thích về tư thế ngồi. Có bốn tư thế có thể để thiền định: đứng, ngồi , ngồi dựa lưng, đi. Trong bốn thế này, ngồi là tư thế thích hợp nhất cho người ới bắt đầu tập thiền.
Một người muốn thực hành anapana sati nên ngồi kiết già. Đối với tỳ kheo và nam cư sĩ, Phật khuyên ngồi kiết già (xếp bằng tréo chân). Đây không phải là tư thế dễ ngồi đối với mọi người, nhưng có thể tập quen dần. Tư thế ngồi bán già nên áp dụng cho tỳ kheo ni và nữ cư sĩ. Tư thế này người ngồi chị tréo một chân gác lên chân kia. Tỳ kheo và nam cư sĩ nên ngồi kiết già kiểu hoa sen sẽ được ích lợi rất lớn. Ở tư thế này bàn chân cuả chân này lật ngưã đặt trên bắp vế cuả chân kia. Nếu ngồi như vậy thấy không thoải mái thì nên ngồi lót hai gót chân dưới mông.
Thưc hành anapana sati nhất thiết phải giữ thân mình thẳng thóm. Thân trên phãi thẳng nhưng không căng thẳng va cứng đờ. Người ta chỉ có thể luyên tập cách thiền định này nếu cột sống và các xương liên kết nhau trong tư thế thẳng. Do đó cần thấu hiểu và tuân theo lờI Phật dạy về việc giữ cho thân trên ỡ tư thế thẳng.
Hai bàn tay để nhẹ nhàng lên đuì, lưng bàn tay mặt đặt trên lòng bàn tay trái. Hai mắt có thể khép hờ hay nhắm phân nưả, miễn sau thấy thoải mái là được . Đầu thẳng, hơi nhìn xuống một tí, muĩ thẳng góc với rốn.
Yếu tố kế tiếp là vị trí tập trung chú ý. Để rèn luyện anapana sati, hành giả phải tập trung đúng vào điểm hơi thở ra vào tại hai lỗ muĩ. Đó là điểm giưã hai lỗ muĩ và môi trên, nơi mà không khí ra vào hai lỗ muĩ có thể được cảm nhận rõ ràng nhất. Nên tập trung chú ý vào điểm đó, giống như người lính canh gác cổng vậy.
Sau đó, Đức Phật đã thuyết giảng về phương cách vun bồi anapana sati. Hành giả tập trung chú ý hơi thở vào, tập trung chú ý hơi thở ra. Từ khi chào đời đến lúc lâm chung, chức năng này tiếp diễn liên tục không gián đoạn, không ngừng nghỉ, nhưng vì ta không nghĩ đến nó một cách có ý thức, thâm chí ta không nhận có sự hiện diện cuả hơi thở này. Nếu ta làm được điều đó thì nó sẽ mang lại cho ta vô vàn lợi lạc từ sự tĩnh tâm và nội quan. Vì thế Đức Phật dạy chúng ta cần ý thức chức năng cuả hô hấp.
Hành giả tu thiền quan sát hơi thở một cách có ý thức theo phuơng cách này sẽ không bao giò khiên cưỡng nỗ lưc kiểm soát hay kềm giữ hơi thở. Vì nếu tự mình khiên cưỡng kiểm soát hay kềm giữ hơi thở, hành giả sẽ trở nên mệt mỏi, việc tập trung tinh thần sẽ bị rối loạn và gián đoạn. Cốt lõi cuả vệc tu tập là tạo nên được sự tập trung chú ý tự nhiên nơi hơi thở ra vào hai lỗ muĩ được cảm nhận. . Thiền giả phải duy trì ý thức về cảm giác tiếp xúc cuả hơi thở, giữ cho sư ý thức này được thường xuyên và đều đặn ở mức có thể được.
Tám Bước
Để giúp hành giả phát triên thiền theo phương pháp này, các thiền sư, các nhà luận kinh đã chỉ ra tám bước tiệm tiến trong thưc hành. Tám bước này trước hết được liệt kê và sau đó được diễn giải trong mối quan hệ thực tế với quá trình thiền:
Tên tám bước: đếm (ganana); theo (anubandhana); tiếp xúc (phusana); định(thapana) quan sát (sallakkhana); ly chuyển (vivattana); Thanh lọc (parisudhi); và hồi quang phản chiếu (patipassana). Tám bước này quán xuyến cả quá trình tinh ti61n thiền đến khi đạt quả vi la hán
Đếm (sổ tưc : đềm hơi thở )
Đếm nhằm cho những ai chưa từng tu tập anapana sati trước đây. Những hành giả đã có thời gian tu tập thiền kha khá thì không cần . Tuy nhiên cũng nên có sự hiểu biết về điều này. Cần hiểu đếm nhu cách sau:
Khi thiền nhân (hành giả) ngồi thiền, người ấy tập trung chú ý vào chót muĩ và thực hiện có ý thức chuỗi hít vào thở ra. Người ấy biết hơi thở khi nó đi vào và biết hơi thở khi nó đi ra tiếp xúc chót muĩ và môi trên. Vào lúc này hành giả bắt đầu đếm các chuyển động này.
Có vài cách đếm. Cách dễ nhất đươc diễn giải như sau:
Cảm nhận được hơi thở đầu tiên đếm “một,một”; hơi thứ hai đếm “hai,hai” rồi lầ lượt “ba,ba”; “bốn,bốn” . . . cho đến hơi thứ mười đếm “mười, mười”. Rồi trở lại đếm “một, một” rồi tiếp tục cho đến “mười, mười”. Cứ thế lập đi lập lại từ một đến mười.
Bản thân việc đếm không thôi không phải là thiền, nhưng đếm đãø là trợ thuu thiết yếu cho thiền. Một người chưa từng tu tập thiền trước đây, thấy rất khó hiểu bản chất cuả tâm mình, có thể nghĩ rằng người ấy đang thiền trong khi tâm mình chạy tán loạn. Đếm là phương pháp tiện dụng để kiểm soát tâm viên ý mã.
Nếu một người tập trung tâm vão thiền định, người ấy có thể duy trì được việc đếm đúng. Nếu tâm người ấy chạy khắp hướng, và quên đếm, người ấy sẽ bị rối và do đó có thể biết được rằng tâm ý cuả người ấy đã rong chơi. Nếu đầu óc không kiễm soát được việc đếm, thì thiền nhân nên đếm lại từ đấu, dù đã đếm sai hàng nghìn lần
Khi việc tu tập tinh tấn, có thể có lúc quá trình hít vào thở ra trở nên ngắn hơn và có thể là không thể đếm lại cùng một số nhiều lần. Lúc ấy thiền nhân phải đếm nhanh “một”,”hai”, “ba”, v.v.Khi người ấy đếm theo cách này, người ấy có thể thấu hiểu sự khác nhau giưã hít vào thở ra dài và hít vào thở ra ngắn.
theo
“Theo” có nghiã là tâm theo hơi thở. Khi tâm được thuần phục theo hơi thở trong quá trình đếm và đã tập trung gắn kết vào việc hít vào thở ra, thì quá trình đếm chấm dứt và quá trình theo dõi hơi thở bẵng tâm linh sẽ thay thế. Đức Phật giảng dạy như sau:
“Khi thiền nhân hít vào dài, người ấy biết rằng mình hít vào dài; và khi người ấy thở ra dài, người ấy biết là mình thở ra dài.”
Ở đây, người ta không cố ý hít vào dài hoặc thở ra dài. Người ta chỉ ý thức điều thực sự xảy ra.
Đức Phật đã tuyên dạy trong đoạn kế sau là một thiền nhân tư tu luyện tư duy:”Tôi sẽ thở vào trong thể nghiệm toàn thân và tôi sẽ thở ra thể nghiệm toàn thân.” Ở đây 'toàn thân” là toàn bộ chu kỳ thở vào, thở ra. Thiền nhân phải tập trung chú ý để thấy rõ lúc bắt đầu, lúc giưã và lúc kết thúc cuả mỗi chu kỳthở vào,thở ra. Việc tu tập như thế gọi la” thể nghiệm toàn thân”.
Lúc bắt đầu, giưã và cuối cuả hơi thở phải được hiểu đúng . Coi chót muĩ là bắt đầu cuả hơi thở, ngực là phần giưã cuả hơi thở và đan điền là phần cuối cuả hơi thở là không đúng. Nếu như người ta cố tình theo dõi hơi thở vào từ muĩ đến ngực đến bụng, hoặc theo dõi hơi thở ra tư bụng, ngực rồi muĩ, thì sự tập trung sẽ bị gián đoạn và tâm viên ý mã lại cỡn lên. Hiểu đúng sư bắt đầu cuả hơi thở là lúc bắt đầu hít vào, khoảng giưã là tiếp tục hít vào và lúc cuối là hoàn thành hít vào. Xem xét hơi thở ra cũng y như vậy, lúc bắt đầu là lúc khởi sự thở ra, lúc giưã là lúc tiếp tục thở ra, và lúc cuối là hoàn thành thở ra. “Thể nghiệm toàn thân “ là ý thức toàn bộ chu kỳ hít vào, thở ra, luôn tập trung tâm vào quanh hai lỗ mũi hoặc trên môi trên nơi cảm thấy được hơi thở ra vào muĩ.
Việc quán tưởng thơi thở vào chỗ quanh hai lỗ muĩ, mà không theo nó vào, ra cơ thể, được minh hoạ bằng luận về ẩn dụ người gác cổng và cái cưa.
Giống hệt như người gác cổng kiểm tra mỗi người vào và ra khỏi thành phố chỉ khi nào họ đi ngang qua cổng, mà không theo họ vào trong hay ra ngoài thành phố, do đó thiền nhân cũng ý thức mỗi hơi thở khi nó đi qua hai lỗ nũi, không theo nó vào trong hay ra ngoài thân thể.
Giống y như một người cưa khúc gỗ sẽ luôn đặt sựchú ý tại điểm nơi mà răng cưa cắt vào gỗ, mà không theo chuyển động tới lui cuả răng cưa, thiền nhân quán tưởng hơi thở khi nó vào ra tới lui xung quanh hai lỗ mũi mà không để cho sư chú ý bị phân tán theo đường đi vào và ra khỏi cơ thể.
Khi một ngươiø thiền định tinh tấn theo hướng này, thấu hiểu toàn bộ quá trình, thì sự an lạc tràn ngập tâm. Và tâm không còn lông bông, toàn bộ cơ thể trở nên thường lạc, thanh tịnh, anvui.
(iii)Tiếp xúc và (iv) Định
Hai phương diện này cuà việc tu tập cho thấy sư phát triển cuả sức tập trung mạnh hơn. Khi việc chú ý vào việc thở được duy trì, hơi thở ngày càng tinh tế êm đềm. Kết quả là cơ thể trở nên tĩnh tại và không còn mệt mỏi. Đau đớn và tê dại thân xác biến mất, và cơ thể bắt đầu cảm thấy thong dong tươi mới như được hưởng một làn gió nhẹ mát rười rượi.
Vào lúc ấy, vì tâm an hoà, việc thở ngày càng tinh tế hơn cho đến khi dường như ngừng thở. Có những lúc tình trạng này tồn tại nhiều phút.Đến đây người ta không còn cảm thấy được việc thở. Đây là chính là lúc một số người hoang mang tưởng là thở đã ngưng, nhưng không phải thế. Thở vẫn còn nhưng rất tế vi. Dù cho thở có tế vi đến mức nào, ta vẫn tập trung vào sự tiếp xúc cuả hơi thở tại vùng lỗ muĩ, không hề mất dấu hơi thở. Tamâ trí giờ đây thoát khọi năm điều trở ngại - tham lam cảm xúc, giận dữ, mệt mỏi-buồn ngủ, bồn chồn không yên và hoài nghị. Thế là con người trởï nên tĩnh tâm an lạc.
Chính vào giai đoạn này “các dấu hiệu” hoăc hình ảnh tâm linh xuất hiện báo hiệu sự tập trung tư tưởng thành công. Trước hết là các hình ảnh có tính chất học thuật (uggahanimitta), kế đến là những hình ảnh đối ứng (patibhaga-nimitta). Một số hình ảnh như là cuộn bông, như ánh điện, như dây chuyền bạc, như màn sương, như bánh xe. Hiện tượng đó đã xuấh hiện với Đức Phật như là mặt trời sáng rực rõ mồn một giưã trưa.
Các hình ảnh học thuật không ổn đinh, nó chuyển dịch đó dây, lên xuống. Nhưng những hình ảnh đối ứng thí xuất hiện chỗ cuối hai lỗ muĩ thì bền vững, cố định và bất động. Vào lúc đấy không còn chướng ngại, tâm vô cùng năng động và cực kỳ yên tĩnh. Giai đoạn này được Đức Phật giảng giải rõ khi người nói rằng ngươi ta thở vào trong sự làm khoan hoà hoạt động cuả cơ thể, nguời ta thở ra khoan hoà hoạt động cuả cơ thể.
Sự dấy lên cuả các hình ảnh đối ứng và sự khuất phục cuả năm chướng ngại đánh dấu sự mức khởi định (upacarasamadhi)đã đạt được. Khi định tiếp tục phát triển, thiền nhân đat tới
định viên mãn bắt đầu với cảnh thiền thứ nhất. Bốn giai đoạn cuả định viên mãn có thể đạt được bằng con đường tu tập anapana sati, cụ thể là đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ cảnh thiền. Bốn giai đoạn cuả tập trung sâu được gọi là định (thapana).
(v) Quán (quan sát) - (viii) Hồi quang phản chiếu.
Người đã đạt jhana rồi không nên dừng lại ở đấy mà nên tiếp tục thiền định sâu hơn tiến đến thiền quán chiếu vào bên trong (vipassana). Các giai đoạn quán chiếu vào bên trong (nội quan) gọi lá quán (sallakkhana). Khi nội quan đạt đỉnh điểm, thiền nhân đạt đến các con đường thoát tục, bắt đầu với giai đoạn nhập lưu. Bởi vì những con đường này tách rời nhựng triền phược trói buộc con người vào vòng luân hồi sinh tử, nên được gọi là
ly chuyển.
Các con đường đường đều dẫn đến kết quả tương ứng; giai đoạn này gọi là thanh lọc (parisuddhi) bởi vì người ta đã rủ sạch buị trần. Sau đó là giai đoạn thực chứng cuối cùng, soát xét lại tri thức gọi là hồi quang phản chiếu (patipassana) bởi vì lúc ấy là lúc nhìn lại toàn bộ quá trình tinh tấn và thành tưụ đạt được. Đây là nhắc lại cách tóm lược các giai đọan chính cuả con đường dẫn đến Niết bàn, căn cứ vào thiền định anapana sati. Giờ đây cần xem xét con đường thực hành xét theo bảy bước thanh lọc.
Bảy bước thanh lọc
Ngườ tu tập bắt đầu bằng việc tuân theo các qui định đạo đức cụ thể. Nếu là cư sĩ, phải giữ ngũ giới hoặc thập giới. Nếu la tu sĩ (tỳ kheo) phải giữ đúng giới luật cuả tỳ kheo khi bắt đầu tu thiền. Việc nghiêm trì giới luật cuả mình hình thành sự trong sạch về mặt đạo đức (sila-visuddhi).
Kế đến , hành giả thực hành chủ đề thiền, và kết quả là các triền phược bị khuất phục
và tâm sẽ định. Đó là thanh lọc tâm (citta-visuddhi) theo đó tâm rủ sạch mọi triền phược (buộc ràng) - và gồm cả đạt định và bốn cảnh giới thiền.
Khi hành giả đã đạt tâm định, hành giả chuyển chú tâm sang thiền định nội quan. Để tinh tấn nội quan trên cơ sở anapana sati , hành giả phải trước tiên xem rằng quá trình thở vào-ra này chỉ là hình thức, một chuỗi các sự kiện thân xác - không phải là cái tôi hay bản ngã. Các yếu tố tinh thần quán chiếu hơi thở cũng chị là tâm, một loạt các sư kiện tinh thần - không phải là cái tôi hay bản ngã. Sư phân biệt tâm và vật (nama-rupa) gọi là thanh lọc quan điểm (ditthi-visuddhi) (thanh kiến)
Hành giả đạt đến giai đoạn này thấu hiểu quá trình thở vào và ra căn cứ vào các điều kiện phát sinh và hưu tức (chấm dứt) cuả các hiện tượng thân thể và tinh thần tham gia vào quá trình thở. Kiến giải này , mở rộng đến tất cả các hiện tượng thể chất và tinh thần xét về phương diện phát sinh tuỳ thuộc nhau, được gọi là thấu hiểu các điều kiện. Khi kiến giải thuần thục, mọi nghi tình cảm nhận từ quá khứ, tương lai và hiện tại đều tan biến. Giai đoạn này gọi là “thanh lọc thông qua việc vượt lên nghi tình”
Sau khi đã hiểu mối quan hệ nhân quả tâm và vật, hành giả tiến xa hơn với thiền định nội quan, và đúng lúc phát sinh trí tuệ “ nhận ra được sư thịnh suy cuả sự vật “ Khi hành giả thở ra, thở vào , hành giả thấy được các trạng thái thân thể và tinh thần đi ra đi vào trong từng phút giây hiện hữu này sang từng phút giây hiện hưũ khác. Khi tuệ giác này trở nên rõ ràng hơn, tâm trở nên rực ánh hào quang và niềm an lạc sinh ra, cùng với lòng tin, sức sống, chú tâm, tuệ giác , thanh tịnh.
Khi những nhân tố này xuất hiện, hành giả suy tư, quan sát ba tính chất vô thường, khổ và vô ngã cuả chúng. Tuệ giác biện biệt giưã kết quả an lạc cuả việc tu tập và nhiệm vụ thiền định tách biệt được gọi là “ thanh lọc bằng kiến giải về con đưỡng chân lý và con đường sai lầm. ”Tâm hành giả, thật trong sạch, hiểu rất rõ sự phát sinh và chấm dứt cuả tâm và vật”
Hành giả hiểu tiếp, với mỗi hơi thở vào và hơi thở ra, sự , phá vỡ các hiện tượng thân xác và tinh thần cùng xảy ra , giống như sự tan vỡ cuả những bọt bong bóng trong nồi cơm sôi, hay giống như sự tan vỡ cuả bọt bóng khi mưa rơi vào vũng nước, hay như tiếng nổ cuả những hạt mè, hạt cải khi cho vào chảo nóng đỏ. Tuệ giác thấy được sự phá vỡ thường hằng và bộc phát cuả cá hiện tượng tinh thần và thể xác được gọi là “kiến giải về sự tan biến”. Nhờ tuệ giác hành giả có được khả năng thấy được các yếu tố tinh thần và thân xác (vật chất) trong cõi ta bà sinh và diệt như thế nào.
Thế là phát sinh trong hành giả tuệ giác thấy được tất cả những hiện tượng này như là cảnh trí đáng sợ. Hành giả thấy rằng không ở một cảnh giới sinh tồn nào, kể cả các cõi trời có được hạnh phúc hay niềm vui chân chính, và hành giả thấu hiểu nỗi bất hạnh và hiểm nguy
Thế là hành giả nhận thức đươc nổi chán chường đối với sự tồn tại đầy những điều kiện ràng buộc. Trong hành giả phát sinh sự thôi thúc tự giải phóng mình khỏi thế gian, khỏi ham muốn mọi hưởng thụ để giải thoát. Thế là, bằng cách xem xét phương tiện giải thoát chính mình, phát sinh trong hành giả một trạng thái tuệ giác nhanh chóng suy xét về sự vô thường, khổ và vô ngã, và tiến đến các tầng bậc tinh tế, thâm sâu cuả kiến tính.
Lúc này xuất hiện trong hành giả sư thấu hiểu sự hợp nhất tâm và thân xuất hiện trong toàn bộ các hệ thống trấn thế đều chịu khổ, và hành giả ngộ ra rằng cõi Niết bàn , vượt lên trên thế gian, cực kỳ bình yên an lành. Khi thấu hiểu như vậy, tâm hành giả kiến giải được sự tịch tĩnh cuá các pháp. Đây là điểm chuyển hoá cuả thiền định nội quan, được gọi là “thanh lọc qua kiến giải và khải ngộ tinh tấn”
Khi hành giả vững vàng tinh tấn, công phu thiền định càng tăng tiến, và khi năng lưc thiền viên mãn, hành giả bước vào quá trình nhận thức con đường Nhập lưu (sotapatti). Với con đưòng nhập lưu, hành giả chứng ngộ Niết bàn và trực ngộ tứ diệu đế (bốn chân lý cao cả). Tiếp đến là vài ba khoảnh khắc quả vị nhập lưu, theo đó hành giả tận hưởng quả vị đạt được. Rồi đến lúc hành giả xem xét lại các kiến giải , tư duy về quá trình tinh tấn và chứng ngộ.
Nếu hành giả tiếp tục thiền định, với mong nuốn nhiêt thành nhất, hành giả sẽ phát triển qua những giai đoạn kiền giải nội quan lập lại tươi mới và chứng ngộ tam đạo và quả vị cao hơn là Nhất lai, Bất lai - Bất hoàn và A la hán (Bất sanh). Những thành tựu quả vị này cùng quả vị Nhập lưu làm thành bảy giai đoạn thanh lọc, thanh lọc qua kiến giải và khải ngộ. Với mổi thành tựu quả vị này hành giả chứng ngộ viên mãn Tứ Diệu Đế đưa con người thoát khỏi đoạ lạc trong vòng luân hồi. Kết quả là những phiền trược cuả tâm đều bị bứng gốc và tiêu diệt, và tâm con người trở nên hoàn toàn được gột rưả, thanh lọc khỏi tứ khổ sinh lão, bệnh tử và những khổ sở, đau đớn, đau thương, bi luỵ, tuyệt vọng.
Kết luận:
Trong cõi luân hồi, được làm chúng sinh như con người chúng ta thật là hiếm. Chúng ta có duyên được hạnh ngộ thông điệp cuả Đức Phật, cùng hiệp với chư thiện hưũ, có cơ duyên nghe Phật pháp. Vởi những duyên lành như thế, nếu nguyện ước cuả ta đã chín muồi, chúng ta có thể ngay trong kiếp nhân sinh này đạt được quả vị cuối cùng là Niết bàn Cực lạc qua tuần tự các bước nhập lưu, nhất thối chuyển , bất thối chuyển, và quả vị a la hán. Vậy chúng ta hãy làm cho kiếp nhân sinh này được quả lành bằng cách thường xuyên tu tập thiền định anapana sati. Đã được hưóng dẫn cách tu tập thiền, chúng ta cần có nếp sống thanh tịnh đạo đức bằng cách giữ nghiêm giới luật và qui y Tam Bảo.
Chúng ta nên chọn thời gian thích hợp để tu tập thiền và tu tập thật đều đặn, giữ vững khoảng thời gian luyện tập mỗi ngày. Mỗi buổi tập nên quán tưởng những phẩm hạnh dổi dào cuả Đức Phật , trải rông lòng yêu thương đến chúng sinh, niệm tưởng đến sự đáng chán cuả xác thân và cái chết không tránh khỏi. Thế là phát sinh tín tâm rằng ta đang đi trên chính con đường dẫn đến Niết bàn, con đường mà chư Phật quá khứ đã đi , chúng ta phải tiến bước mạnh mẽ trên con đường thiền định và phấn đầu với nỗ lực thật kiên trì,