| Để luôn sáng tạo trong mọi hoàn cảnh | ||
| 16/08/2009 07:25 (GMT + 7) | ||
| (TuanVietNam) - Không phủ nhận, trong lúc con thuyền doanh nghiệp gặp sóng gió, mọi thành viên trên thuyền cần dốc toàn lực chống đỡ đưa con thuyền ra khỏi nơi bão tố. Bạn cũng không sai nếu yêu cầu nhân viên phải làm việc miệt mài hàng giờ liền để giải quyết vấn đề một cách triệt để. Thế nhưng, khi liên tục thúc ép họ làm việc ở cường độ cao như vậy trong suốt hàng tháng trời thì bạn lại đang mắc phải sai lầm. | ||
|
Một nhà quản lý không thể chỉ nhờ vào việc lao động cần mẫn trong nhiều giờ mà trở nên sáng tạo hơn thậm chí chưa nói đến việc điều này đôi khi còn phản tác dụng. Người ta vẫn thường cho máy móc nghỉ ngơi, bảo dưỡng sau thời gian hoạt động liên tục vậy cớ sao con người không thể có được thời gian thư giãn mỗi ngày?
Dưới đây là một vài gợi ý giúp bạn duy trì hiệu quả công việc bất chấp mọi hoàn cảnh: Yêu cầu về đặt ra chuẩn mực: Là một nhà quản lý, bạn cần quán triệt trong nội bộ nhóm rằng, trong lúc khủng hoảng, mỗi thành viên cần chung tay gánh vác phần công việc nặng nề hơn trước. Người quản lý nêu cao tinh thần này bằng việc tự mình đảm đương phần việc nhiều hơn và một phần trong những công việc đó là dành nhiều thời gian hơn cạnh nhóm của mình. Cùng lúc, bạn cũng không nhất thiết phải đề ra cho mỗi người cách thức làm việc ra sao bởi nhân viên của bạn hoàn toàn biết cách tự kiểm soát công việc của họ sao cho hiệu quả nhất. Chẳng hạn, bạn chỉ nên yêu cầu mọi người có mặt đầy đủ ở một số buổi họp hành thực sự cần thiết mà thôi. Đừng bắt mọi nhân viên của bạn phải tham gia mọi buổi họp hành vì đó là điều không cần thiết mà hãy giúp họ dành thời gian cho những công việc có ích nhiều hơn thế. Xây dựng mối quan hệ thân thiết: Một trong những cách đơn giản nhất để làm việc hiệu quả là học theo cách làm hay của các tổ chức khác. Hãy hợp sức cùng nhóm của mình ở mọi nơi mọi lúc kể cả lúc thảnh thơi trong kỳ nghỉ lẫn những phút ngoài văn phòng. Bất kể đó là một người dưới quyền hay một người lãnh đạo, mọi người đều có thể ở bên, cùng bạn gánh vác nhiệm vụ nặng nề. Nhiều tổ chức dẫu vẫn nhìn nhận nhóm của mình là người để cộng tác nhưng vẫn chưa từng coi những người trong nhóm của mình như những đối tác thực thụ. Khi mọi người cùng kề vai sát cánh bên nhau, họ sẽ làm được nhiều hơn họ nghĩ. Dành thời gian thư giãn: Thi thoảng hãy dành chút thời gian ra khỏi bốn bức tường văn phòng ngột ngặt như đi ăn trưa cùng bạn bè hay tản bộ lúc chiều muộn hoặc đến phòng thể dục. Một cơ thể khoẻ khoắn sẽ giúp bạn đảm đương một khối lượng công việc đáng kể. Muốn kéo nhóm của mình ra khỏi nơi văn phòng chật hẹp và dành chút thời gian thư thái, bạn nên thực hiện trước tiên. Khi nhân viên thấy người quản lý của mình thư giãn họ sẽ coi như đã nhận được sự chấp thuận để họ cũng được thư giãn đôi chút. Chừng nào người lãnh đạo còn chưa ngơi nghỉ thì nhân viên của anh ta đâu dám tự ý bỏ khỏi guồng máy. Trong khủng hoảng, không chỉ giới công ty mới phải nỗ lực hết mình vì công việc mà các cơ quan chính phủ thậm chí ở cấp quản lý cao nhất cũng nghiêm túc thực hiện điều này. Ở Nhà Trắng của Tổng thống Mỹ, ông Obama đã cam kết biến bộ máy công quyền của mình thực sự thân thiện và làm việc hiệu quả. Nhưng để đạt được điều này, những người dưới quyền ông đã phải đánh đổi quá nhiều thời gian bên gia đình của họ. Nếu công việc chồng chất khiến người ta phải liên tục bận bịu tối ngày đến độ tưởng như không có điểm dừng thì chắc rằng tổ chức đó sẽ chẳng thể giữ những người có năng lực ở lại lâu bên mình lâu dài. Hãy luôn nhớ rằng con người là nguồn lực quý giá hơn tất thảy vì vậy họ cần nghỉ ngơi, thư giãn để tái tạo sức sản xuất và có thời gian dành cho gia đình của họ. Điều này chẳng những không làm giảm bớt lòng nhiệt tình cống hiến cho công việc mà ngược lại, nó sẽ có tác động tích cực đến niềm đam mê trong họ. Hãy biết tự mình thoát khỏi hàng núi công việc để cho cơ thể và đầu óc bạn được nạp năng lượng và trở nên dẻo dai hơn, chuẩn bị sẵn tư thế đương đầu với mọi thách thức phía trước. - Bài viết của John Baldoni trên Harvard Bussiness Publishing. Phong cách lãnh đạo nơi công sở của ông vinh dự được bình chọn là 1 trong 10 blog tiêu biểu viết về đường lối lãnh đạo trong cuộc bình chọn do Kevin Eikenberry Group khởi xướng.
|
Thứ Ba, 18 tháng 8, 2009
Để luôn sáng tạo trong mọi hoàn cảnh
ĐẶC TRƯNG GIAO TIẾP CƠ BẢN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
ĐẶC TRƯNG GIAO TIẾP CƠ BẢN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
1. Xét về thái độ đối với việc giao tiếp, có thể thấy đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè.
- Từ góc độ của chủ thể giao tiếp thì người Việt Nam có tính thích thăm viếng. Đã thân nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần chăng nữa, lúc rảnh rỗi họ vẫn tới thăm nhau. Thăm viếng không còn là nhu cầu công việc (như ở phương Tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ.
- Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách. Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dù nghèo khó đến đâu cũng cố gắng tiếp đón chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon nhất: Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, không bằng đói bữa. Tính hiếu khách này càng tăng lên khi ta về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng núi xa xôi.
Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có đặc tính hầu như ngược lại là rất rụt rè – điều mà những người quan sát nước ngoài rất hay nhắc đến. Sự tồn tại đồng thời của hai tính cách trái ngược nhau (thích giao tiếp và rụt rè) này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị. Khi đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, nơi tính cộng đồng ngự trị thì người Việt Nam sẽ tỏ ra xởi lởi, thích giao tiếp. Còn khi ở ngoài cộng đồng, trước những người lạ, nơi tính tự trị phát huy tác dụng thì người Việt Nam sẽ tỏ ra rụt rè. Hai tính cách tưởng như trái ngược nhau ấy ko hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong những môi trường khác nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất, là biểu hiện cho cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam
2. Xét về quan hệ giao tiếp, văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử: Yêu nhau yêu cả đường đi/ ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng; Yêu nhau cau sáu bổ ba/ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười; Yêu nhau chín bỏ làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn/ghét nhau quả bồ hòn cũng méo; Yêu nhau mọi việc chẳng nề/một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…
3. Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thể quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá…
Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình (bố mẹ còn hay mất, đã có vợ/ chồng chưa, có con chưa, mấy trai mấy gái…) là những vấn đề người Việt Nam thường quan tâm. Thói quen ưa tìm hiểu này khiến cho người nước ngoài có nhận xét là người Việt Nam hay tò mò. Đặc tính này – dù gọi bằng tên gì đi nữa – chẳng qua cũng chỉ là một sản phẩm của tính cộng đồng làng xã mà ra.
Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì phải biết rõ hoàn cảnh. Mặt khác, do lối sống trọng tình cảm, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hô riêng, nên nếu không có đủ thông tin thì không thể lựa chọn từ xưng hô cho thích hợp được. Biết tính cách, biết người để lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp: Chọn mặt gửi vàng; Tùy mặt gửi lời/tùy người gửi của. Khi không được lựa chọn thì người Việt Nam dùng chiến lược thích ứng một cách linh hoạt: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.
4. Tính cộng đồng còn khiến người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự: Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch, rách cho thơm; Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Danh dự gắn với năng lực giao tiếp: Lời hay nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm; lời dở truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng
Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tạo tin đồn, tạo nên dư luận như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã.
5. Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận
Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy trong các mối quan hệ. Nó tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng khi nói năng: Ăn có nhai, nói có nghĩ; Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói; Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo… Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm là thiếu tính quyết đoán, nhưng đồng thời giữ được sự hòa thuận, không làm mất lòng ai. Người Việt Nam rất hay cười, nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; người ta có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả lúc ít chờ đợi nhất.
Tâm lý ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn: Một sự nhịn là chín sự lành; Chồng giận thilf vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê…
Trước hết, đó là sự phong phú của hệ thống xưng hô: trong khi các ngôn ngữ phương Tây và Trung Hoa chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng thì tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô, và những danh từ thân tộc này có xu hướng lấn át các đại từ nhân xưng. Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm:
- Thứ nhất, có tính chất thân mật hóa (trọng tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình.
- Thứ hai, có tính chất cộng đồng hóa cao – trong hệ thống này không có những từ xưng hô chung mà phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp cụ thể: chú khi ni, mi khi khác. Cùng là hai người, cách xưng hô có kkhi thể hiện được hai quan hệ khác nhau: chú-con, ông-con, bác-em, anh-tôi… Lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên chồng; bằng thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba, Tư…)
- Thứ ba, thể hiện tính tôn ti kỹ kưỡng: người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính). Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai cùng xưng là em và cùng gọi nhau là chị. Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tên riêng: xưa kia chỉ gọi đến tên riêng khi chửi nhau; đặt tên con cần nhất là không được trùng tên của những người bề trên trong gia đình, gia tộc cũng như ngoài xã hội. Vì vậy mà người Việt Nam trước đây có tục nhập gia vấn húy (vào nhà ai phải hỏi tên chủ nhà để khi nói nếu có động đến từ đó thì phải nói chệch đi).
Nghi thức trong cách nói lịch sự cũng rất phong phú. Do truyền thống tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ cảm ơn, xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp như phương Tây. Với mỗi trường hợp có thể có một cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau: Con xin chú (cảm ơn khi nhận quà), Chị chu đáo quá (cảm ơn khi được quan tâm), Bác bày vẽ quá (cảm ơn khi được đon tiếp), Quý hóa quá (cảm ơn khi khách đến thăm), Anh quá khen (cảm ơn khi được khen), Cháu được như hôm nay là nhờ cô đấy (cảm ơn khi được giúp đỡ)…
Văn hóa nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến không gian nên người Việt Nam phân biệt kỹ các lời chào theo quan hệ xã hội và theo sắc thái tình cảm. Trong khi đó văn hóa phương Tây ưa hoạt động lại phân biệt kỹ các lời chào theo thời gian như chào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối…
Cuộc Sống Việt _ Theo Sách Cơ sở Văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc Thêm)

