Thứ Hai, 17 tháng 8, 2009

Tập đoàn: “Săn hai thỏ, về tay không”

0 nhận xét
Tập đoàn: “Săn hai thỏ, về tay không”
14/08/2009 09:13 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - Các nhà bình luận đã nói nhiều tới những bất cập của mô hình mở rộng tập đoàn Việt Nam dưới góc độ kinh tế vĩ mô. Nhưng, hãy thử đổi góc nhìn sang vi mô để xem liệu chiến lược mở rộng ấy có hiệu quả hay không?


Bức tranh còn nhiều mảng tối

Ảnh: ocw.mit.edu
Báo cáo kết quả giám sát các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vừa được trình lên Quốc hội cho biết: hiệu quả sử dụng vốn của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa tương xứng với quy mô, vị trí và vai trò của các thực thể đó trong nền kinh tế.

Tới 25% số đơn vị báo cáo có mức lợi nhuận âm hoặc dưới 5%, 47,2% số đơn vị báo cáo có mức lợi nhuận dưới 10%.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng làm ăn kém hiệu quả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trong số đó, không thể không kể tới việc các thực thể nói trên đầu tư tràn lan sang các lĩnh vực “ăn xổi ở thì” khác như chứng khoán, bất động sản…

Có tất cả 47 tập đoàn, tổng công ty tham gia đầu tư vào lĩnh vực này với tổng số vốn đầu tư vào cuối năm 2006 lên tới 6 nghìn 434 tỷ đồng, cuối năm 2007 là 16 nghìn 190 tỷ đồng và cuối năm 2008 là 21 nghìn 164 tỷ đồng.

Kết quả là, càng đầu tư, hiệu quả càng không cao. Tính đến 31/12/2008, hầu hết các tập đoàn, tổng công ty đều không phát sinh lợi nhuận hoặc lỗ từ những khoản đầu tư vào chứng khoán và góp vốn quỹ đầu tư. Thực tế đó góp phần làm “ốm yếu” thêm thể trạng các tập đoàn.

Câu chuyện các tập đoàn đầu tư tràn lan không hiệu quả, làm phức tạp thêm bức tranh kinh tế vĩ mô và gây khó khăn phần nào cho nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế đã được đề cập quá nhiều và không còn gì mới nữa.

Bây giờ, hãy thử đặt một vấn đề theo hướng khác? Từ nội tại bản thân mỗi tập đoàn, tại sao họ lại có xu hướng mở rộng như vậy và làm như thế có mang lại hiệu quả hay không xét từ giác độ chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Những phân tích dưới đây dựa trên giả định lãnh đạo các tập đoàn đưa ra quyết định trên cơ sở duy lý, nghĩ tới lợi ích của doanh nghiệp. Tuy trên thực tế, trong nhiều trường hợp không hoàn toàn như vậy.

Mở rộng hay đi vào ngõ cụt

Al Ries, một nhà nghiên cứu về chiến lược công ty, đã từng có một ví von thú vị rằng công ty như cái tủ quần áo, một vài tuần sau khi sắp xếp lại ngăn nắp, nó lại rối beng lên. Hay nói cách khác, các tập đoàn thường có xu hướng thích mở rộng “lung tung” sang các mảng khác nhau.

Thập niên 80, 90 ở Mỹ có thể coi là thập niên mở rộng của các tập đoàn. Lịch sử thành bại của các tập đoàn trong giai đoạn này đã cho thấy nhiều bài học giá trị. Kết luận rút ra từ những phi vụ mở rộng đình đám trong giai đoạn ấy chốt lại ở câu: “Các tập đoàn đừng cố gắng ăn trọn cái bánh quá lớn so với miệng họ. Đừng nghĩ rằng cỏ xanh hơn khi nhìn từ bên kia hàng rào.”

Một ví dụ kinh điển vẫn được giảng dạy trong các trường kinh doanh là trường hợp của Xerox. Công ty này thời đó đang dẫn đầu thị trường về máy photocopy. Thế rồi, đầu thập niên 1990, Xerox quyết định đa dạng hóa bằng việc cung cấp thêm các dịch vụ tài chính dưới cái tên: “The Xerox Financial Machine”. Được hai năm, đến năm 1992, hệ thống tài chính này sụp đổ và Xerox gánh khoản lỗ 778 triệu đô-la.

Năm 1985, chủ tịch tập đoàn Chrysler tuyên bố về sự ra đời của một đế chế với 4 công ty thành viên với các loại hình kinh doanh riêng biệt: Chrysler Motor (chuyên về ôtô), Chrysler Aerospace (không gian), Chyrsler Financial (chuyên cung cấp dịch vụ tài chính) và Chrysler Technologies (chuyên về kỹ thuật). Cuối cùng, tất cả biến thành một trò hề, chủ tịch Lee Iacocca thời đó của tập đoàn xe hơi danh tiếng này rốt cục đã phải thừa nhận việc mở rộng là sai lầm lớn nhất đời ông.

Có thể tìm được vô số ví dụ như vậy trong lịch sử kinh doanh của các tập đoàn Mỹ. IBM mua Rorn năm 1984 rồi bán đi năm 1989. Coca-cola mua lại Columbia Pictures năm 1982 rồi bán đi năm 1989… Có thể nói rằng đa số hoạt động mở rộng dẫn các tập đoàn tới ngõ cụt.

Ít hơn là nhiều hơn

Ảnh: sbdc.unf.edu
Các tập đoàn trên thế giới cũng có xu hướng mở rộng bởi những lý do của nó. Họ muốn tận dụng thương hiệu, khả năng vốn, khả năng sản xuất, khả năng marketing, tiềm năng khách hàng… Tóm lại họ có nhiều khả năng để có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn ở những mảng kinh doanh khác. Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, những khả năng đó không phải lúc nào cũng mang lại sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp.

Bài học từ những thập niên mở rộng trong quá khứ đã khiến cho các tập đoàn giờ đây tập trung hơn vào ngành kinh doanh chính. Cũng có những tập đoàn kinh doanh đa ngành nhưng các công ty con với tên thương hiệu riêng biệt và độc lập mạnh với công ty mẹ về mọi mặt.

Ngay cả khi chỉ mở rộng một dòng sản phẩm trong mặt hàng kinh doanh chính, doanh nghiệp cũng phải cân nhắc mọi nhẽ thiệt hơn. Chúng ta đều biết rằng khi tập đoàn Toyota mở rộng sang mảng xe hơi cao cấp, họ chọn một thương hiệu riêng biệt Lexus, độc lập về nhiều mặt với hãng mẹ. Honda cũng làm vậy với thương hiệu xe hơi cao cấp riêng biệt Acura.

Mở rộng hoàn toàn không phải trò chơi duy ý chí của những kẻ nghiệp dư, đó là sự toan tính đặc biệt cẩn trọng và khoa học của các chủ tịch tập đoàn. Mọi chiến lược mở rộng đều phải được tham mưu bởi các nhà tư vấn chiến lược chuyên nghiệp, dày dặn kinh nghiệm, những người luôn hiểu rằng: trong kinh doanh đôi khi nhiều hơn lại là ít hơn và ít hơn lại là nhiều hơn.

Các tập đoàn nổi tiếng thế giới đã phải trả giá đắt để học được bài học rằng Tập Trung là yếu tính của thành quả kinh tế và Mở Rộng cần được thực hiện theo một lộ trình đặc biệt. Còn những tập đoàn Việt Nam đang mở rộng với những động cơ và cách thức không theo logic thông thường. Nhiều tập đoàn mở rộng không hẳn đã vì mục đích kinh doanh thành công và với những phương thức kiểu "phong trào", vì lợi ích ngắn hạn.

Các tập đoàn nước ngoài với trình độ quản lý và công nghệ đẳng cấp còn phải thừa nhận: mở rộng thiếu bài bản là con đường chết và rằng: thà giỏi ở một lĩnh vực còn hơn làng nhàng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Mở rộng theo kiểu "chỉ để mà mở rộng" như nhiều tập đoàn Việt Nam đang làm thì hiệu quả thấp là tất yếu.

Các tập đoàn đó đã quên hay cố tình quên những bài học về sự Tập trung, bài học đã được Khổng Tử đúc kết từ 2500 năm trước: “Kẻ nào săn cùng một lúc hai con thỏ ắt sẽ trở về tay không”.

  • Khánh Duy

Hành xử với danh hiệu di sản thế giới

0 nhận xét
Hành xử với danh hiệu di sản thế giới
16/08/2009 06:53 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - Việc Thủ tướng Chính phủ vừa ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 1) đối với 10 di tích, danh lam thắng cảnh trên cả nước là một động thái cần thiết. Hy vọng đây là sự chủ động "thông báo" với thế giới chúng ta sẵn sàng bảo tồn, phát triển vốn di sản quý giá mà mình có, song song với việc đem các địa danh, di sản ấy trở thành ứng cử cho những danh hiệu đáng giá của UNESCO.


Chuẩn bị kỹ trước khi đề nghị... cấp bằng

Một đất nước có những địa danh, di sản, loại hình văn hóa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, Di sản thiên nhiên thế giới, Khu dự trữ sinh quyển thế giới, Công viên địa chất hay Ký ức thế giới... thì ý nghĩa của nó là sự tác động hai chiều: Đó là cơ hội vàng cho việc quảng bá danh tiếng đất nước và đi kèm theo là trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc tôn tạo, phát huy giá trị của di sản, để chúng luôn xứng đáng là tài sản quý cho toàn nhân loại.

Di tích Hoàng thành Thăng Long (Ảnh: Tuổi Trẻ)

Bên cạnh những danh hiệu đã được công nhận, nay Việt Nam đang có nhiều địa danh, di sản trong quá trình đề cử hoặc chuẩn bị đề cử lên UNESCO. Như một ứng viên tham dự các cuộc thi quan trọng, khi đã gửi hồ sơ đi thì ai cũng mong mình sẽ trúng tuyển.

Với việc đi "thi" để "lấy bằng" của UNESCO cũng vậy, ta chỉ "trúng tuyển" khi thể hiện được cái "Tôi" của mình, cho thấy mình là ứng viên xuất sắc, có tính độc nhất, đã có quá trình chuẩn bị kỹ càng và thể hiện được cam kết có thể phát triển, khai thác giá trị "thương hiệu" của di sản đã được đóng dấu xác nhận để đóng góp cho cộng đồng.

Danh hiệu là cần thiết nhưng không có nghĩa là nhất thiết phải vội vã có bằng được nếu chúng ta chưa thực sự sẵn sàng, chưa hiểu rõ "nguồn vốn" mà mình nắm trong tay và phát triển nó như thế nào.

Trong khi VN đang đệ trình hồ sơ của nhiều địa danh và di sản lên UNESCO để chờ được công nhận thì việc nắm rõ các tiêu chí hay "chuẩn" chung của thế giới để được công nhận, hay nói cách khác là hiểu rõ mình và nắm được yêu cầu của người, là việc cần lưu ý để hồ sơ không bị... trả về.

Hiện nay chúng ta đang dồn nhiều tâm sức để di tích quốc gia đặc biệt Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội (thuộc quận Ba Đình, Hà Nội) trở thành Di sản văn hóa thế giới, nhất là khi 1000 năm Thăng Long đã cận kề. Tuy nhiên, UNESCO đã khuyến cáo, nếu quy mô Nhà Quốc hội sắp xây dựng bên khu vực này quá lớn, kiểu dáng kiến trúc không phù hợp với cảnh quan xung quanh, thì khu di tích trung tâm Hoàng thành ở sát cạnh bên sẽ ít cơ hội để sở hữu danh hiệu di sản văn hóa thế giới danh giá cho thủ đô Hà Nội.

Lễ hội Gióng và Bia Văn Miếu

Trong danh sách mà TP Hà Nội đem đề cử lên UNESCO cho danh hiệu Ký ức thế giới hiện có lễ hội Gióng (hay Hội Phù Đổng) và Bia Văn Miếu. Một điều cần được quan tâm ở đây là chúng ta đã thực sự hiểu và có sự quan tâm xứng đáng đến các di sản này hay chưa, trong đó góc độ phổ biến giá trị và ý nghĩa thực sự của chúng đến người dân.

Thực tế đã diễn ra, tại lễ hội Gióng vốn được mở rộng quy mô từ đời vua Lý Thái Tổ vẫn còn tồn tại những lộn xộn như phần đông các lễ hội vẫn diễn ra ồ ạt trên đất nước ta gặp phải, đôi khi chưa có sự "tôn thờ" xứng đáng với ý nghĩa vốn có, cùng với việc truyền tải những thông điệp quý từ xa xưa. Bia Văn Miếu trong khu Văn Miếu - Quốc Từ Giám nhiều lúc trở thành chỗ dựa cho sự mê tín khi người ta đòi phải sờ đầu rùa bằng được thay vì quan tâm đến những gì ý nghĩa từ văn bia hay gốc gác lịch sử của nó.

Nếu sớm đây, những địa danh, di sản này được công nhận thì cùng với nhiều di sản khác, chúng ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm để bật lên được cái "hồn" của di sản, những giá trị của nó trong hiện tại và tương lai để không chỉ tổ chức xét duyệt được chứng thực mà người dân trong và ngoài nước đến với di sản trong tâm thế trân trọng.

Ứng xử văn hóa với di sản văn hóa

Trong "kho tàng" thiên nhiên và văn hóa của mình, VN còn rất nhiều di sản, địa danh quý giá có thể đem "trình làng" với thế giới. Đó là sự tự hào và ý thức về gia trị vốn có cần thiết. Và cũng trong hệ thống công nhận danh hiệu của UNESCO, có nhiều danh mục để chúng ta có thể đem những vốn quý của mình ra đề cử.

Tuy nhiên, có những địa phương, chính vì chưa hiểu rõ chính mình, thay vì bảo tồn, phát huy giá trị đích thực vốn có thì lại chỉ tôn vinh cái vỏ ồn ào, xô bồ hoặc có thái độ "làm ngơ" với di sản, di tích. Thế nên mới có hiện tượng nhiều địa danh lịch sử, nhiều lễ hội, địa danh văn hóa bị bỏ mặc hoặc có được tôn tạo thì lại thành ra "làm mới" chứ không phải phải "bảo tồn", "giả cũ" chứ không phải "giữ cổ".

Hầu đồng gắn với Đạo Mẫu là một di sản sống của văn hóa Việt - vấn đề là chúng ta hành xử với nó thế nào? (Ảnh: B.D)


Ví dụ về chuyện "có của" những không biết phát huy là việc khi 8 khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhân thì đó là do công của Ủy ban Quốc gia con người và Sinh quyển VN khi đã đề cử lên chứ không phải do các địa phương tổ chức nghiên cứu và đề xuất. Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản cũng cho rằng VN có quá nhiều vùng xứng đáng được đề cử vào danh sách "Công viên địa chất thế giới" (trong kế hoạch công nhận 500 công viên địa chất toàn cầu trong 20 năm của UNESCO) vậy mà ta mới đề cử cho cao nguyên đá Đồng Văn của tỉnh Hà Giang và mấy năm nay vẫn chưa thành hiện thực.

Một ví dụ tiêu biểu khác là Viện Văn hóa nghệ thuật VN đề nghị đưa hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của VN vào danh sách đề cử Di sản văn hóa phi vật thể, đúng dịp Liên hoan diễn xướng hầu đồng lần đầu tiên được tổ chức trong một lễ hội gây nhiều tranh cãi về chuyện "làm mới" của nó - lễ hội Đền Lảnh Giang (Duy Tiên, Hà Nam).

Với GS. TS Ngô Đức Thịnh, ông cho rằng hầu đồng là một di sản quý không chỉ về mặt tâm linh, có sự gắn kết với lịch sử mà còn về các khía cạnh như văn hóa, âm nhạc, rồi cả vũ đạo, mỹ thuật, kiến trúc, lễ hội dân gian, nghệ thuật trình diễn. Nhưng mặt khác, chuyên gia về hầu đồng và đạo Mẫu này vẫn nêu ý kiến rằng chúng ta "không nên đua thành tích" khi còn bao nhiêu biến tướng xô bồ xung quanh việc hầu đồng trong thế giới hiện đại.

"Tôi thấy bây giờ hình như có "hội chứng công nhận di sản", công nhận được thì tốt thôi, nhưng quan trọng là mình nhìn nhận nghiên cứu và bảo tồn di sản như thế nào, để nó giữ được giá trị, vẻ đẹp và có ý nghĩa như thế nào với cộng đồng, chứ không phải công nhận rồi để đấy. Chưa kể với hầu đồng, trong khi trong nước còn chưa có được tiếng nói đồng thuận, mang ra thế giới rất dễ gây tranh cãi. Tôi không cho rằng việc quốc tế công nhận hay không là mục đích, mà mục đích của chúng ta là phải nhận chân, bảo vệ và quản lý tốt di sản mình đang có", GS Ngô Đức Thịnh phát biểu trên Thể thao & Văn hóa (7/8).

Khi chúng ta đang liên tiếp nhận được những tin vui khi các địa danh, di sản văn hóa và thiên nhiên của mình được được "cấp bằng" giá trị trên toàn thế giới (như việc mộc bản triều Nguyễn ở Huế vừa trở thành di sản "Ký ức thế giới", Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và Mũi Cà Mau trở thành Khu dự trữ sinh quyển thế giới...) thì việc các địa danh, di sản đang được đưa ra đề cử khác sẽ tiếp tục được vinh danh là mong đợi của mỗi người dân VN.

Nhưng chắc chắn rằng, một sự chờ đợi lớn lao không kém vẫn sẽ là chúng ta nhận diện được rõ bản thân mình để hành xử có văn hóa với những di sản văn hóa, xứng đáng với giá trị thực sự mà mình đang có và đang... lỡ đánh mất.