Thứ Hai, 24 tháng 8, 2009

nghiên cứu mới về người tiêu dùng châu Á

0 nhận xét

nghiên cứu mới về người tiêu dùng châu Á

Nguyên An

Tạp chí Marketing

Không chắc chắn về tương lai, tiết kiệm mà muốn có nhiều tiền hơn. Đó là những phát hiện mới nhất của Grey Group châu Á – Thái Bình Dương trong cuộc khảo sát người tiêu dùng chấu Á có tên là Eye on Asia 2009. Nghiên cứu này tập trung vào hy vọng và mơ ước của người dân tại 16 quốc gia tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.

Không chắc chắn về tương lai

Theo khảo sát của Eye on Asia, nhìn chung sư lạc quan của người châu Á đã giảm đi đáng kể. Tâm trạng chán nản về tài chính khiến thái độ của họ trở nên tiêu cực. Sự bi quan dẫn đến gia tăng xu hướng làm việc và tiết kiệm nhiều hơn. Có đến 76% người dân châu Á tin rằng tương lai sẽ tốt đẹp hơn quá khứ trong khi chỉ có 30% tin tưởng chắc chắn điều này. Mức độ lạc quan này chủ yếu được tìm thấy tại Bangladesh, Sri Lanka và Việt Nam.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người châu Á không chắc chắn về tương lai, chỉ 30% bằng lòng hơn năm ngoái trong khi 39% lại kém hài lòng hơn. Rõ ràng nhất là mức độ hài lòng ở Đài Loan (60%) và Hàn Quốc (50%) đã giảm đi. 63% người châu Á hài lòng với cuộc sống hiện tại, nhưng con số cụ thể ở các quốc gia có sự chênh lệch rất lớn, đặc biệt là tại những quốc gia có phần lớn dân số không thỏa mãn với cuộc sống hiện tại như Đài Loan, Indonesia, Hồng Kông và Nhật Bản.

Muốn có nhiều tiền nhưng sẽ bận rộn hơn

Cuộc suy thoái kinh tế khiến 80% dân số châu Á phải tiết kiệm cho tương lai. 50% hưởng ứng những biện pháp cắt giảm chi phí và tích cực tìm kiếm hàng hóa có mức giá phù hợp để tiết kiệm tiền. Chỉ 45% thấy thoải mái về tài chính hiện tại trong khi có đến 97% muốn có nhiều tiền hơn nữa.

Nghiên cứu cũng cho thấy 46% người dân châu Á rất quan tâm đến tiền bạc trong nhà. Sức ép từ những khó khăn về tài chính thúc đẩy các bà mẹ trước kia không đi làm thì nay cũng tham gia vào lực lượng lao động. 89% đồng ý rằng với tình hình kinh tế ngày nay, phụ nữ cần đi làm để tăng thu nhập cho gia đình. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan bởi họ phải làm tốt cả hai vai trò trong sự nghiệp và gia đình. 81% cảm thấy các bà mẹ ngày nay quá bận rộn và không có đủ thời gian dành cho con cái. Nếu được lựa chọn, nhiều người sẽ thích ở nhà chăm sóc con cái. Nhưng cũng có không ít bà mẹ khác cho rằng có một sự nghiệp thành đạt giúp họ cân bằng và thích nghi với vai trò làm mẹ tốt hơn. 62% phụ nữ châu Á cảm thấy hài lòng về vai trò làm mẹ của mình. Mức độ hài lòng cao nhất ở những quốc gia đang phát triẻn như Bangladesh và Việt Nam, trong khi mức độ hài lòng thấp nhất tồn tại ở quốc gia giàu có như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.

Mua hàng online nhiều hơn

Suy thoái kinh tế cũng tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong thói quen mua sắm của người châu Á và xuất hiện nhiều hành vi mua hàng mới. Khủng hoảng làm cho người tiêu dùng trì hoãn các quyết định mua hàng cho đến khi thấy hàng hóa hiện hữu trước mặt. Với suy nghĩ và tâm lý phức tạp của người mua hàng ngày nay, ít nhất 75% các quyết định mua hàng được thực hiện trong khu vực bán lẻ.

81% các bà mẹ châu Á cảm thấy thiếu thời gian, do vậy, cần làm cho môi trường bán lẻ trở nên thú vị và đơn giản hơn. Hoạt động marketing phải thúc đẩy niềm cảm hứng của cả khách hàng, người mua hàng và thương hiệu.
Thế hệ người châu Á mới cũng tiếp thu thông tin, tin tức và giải trí bằng nhiều kênh khác nhau. 51% những người được hỏi đã mua hàng qua mạng, 92% tại Hàn Quốc và Nhật Bản, so với 73% tại Úc. Lý do chính là việc so sánh giá cả dễ dàng được thực hiện tại kênh mua bán này. Nhưng điều đó không có nghĩa giá cả là yếu tố quyết định. Trên thực tế, thông điệp truyền tải giá trị sản phẩm mới là yếu tố quan trọng và việc các thương hiệu ảnh hưởng tạo ra giá trị như thế nào mới là yếu tố quyết định.

Các nhóm tiêu dùng thương hiệu tại châu Á: gồm có năm phân khúc riêng biệt.

• Những người thích thương hiệu “mới” (21%): thích cái mới, bởi nó là mới lạ và khác biệt.
• Những người tìm kiếm giá trị đích thực (23%): Tìm kiếm giá trị gia tăng, sự kết nối tình cảm và sự tin cậy, khao khát giá trị ngoài chức năng thông thường.
• Những người tin vào chủ nghĩa cá nhân (21%): Thích những thương hiệu sành điệu, hợp thời trang nhưng nổi tiếng, đặt những tiêu chuẩn cao nhất cho các thị hiếu của mình.
• Những người tìm kiếm địa vị (19%): Chạy theo những thương hiệu hàng đầu, cần sự đảm bảo và chứng nhận rằng họ đang sở hữu những gì tốt nhất.
• Những người coi trọng chức năng của sản phẩm (16%): Thực tế và thực dụng, bị thu hút bởi chất lượng và độ bền.

Tầm quan trọng của PR đối với các doanh nghiệp

0 nhận xét

Tầm quan trọng của PR đối với các doanh nghiệp

Hiền Trang- dịch từ FC

Người lãnh đạo

“Quan hệ công chúng (PR) là một chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì sự truyền thông 2 chiều, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức và “công chúng” của họ …

Quan hệ công chúng bao gồm sự quản lý những vấn đề hay sự kiện ma tổ chức cần phải nắm được dư luận của quần chúng và có trách nhiệm thông tin cho họ.”

Thông thường các cá nhân không để ý đến việc quảng bá hình ảnh nhưng đối với các tổ chức, các ngôi sao thể thao, các chính trị gia và doanh nhân thì PR lại rất cần thiết và quan trọng đối với họ. Quan hệ công chúng là yếu tố cốt yếu tạo thành công trong sự nghiệp. Các ngôi sao phim, ngôi sao ca nhạc cần các fan hâm mộ để quảng cáo bộ phim của họ. Các ngôi sao thể thao cũng cần sự trợ giúp nhằm tăng sự nổi tiếng từ các fan. Các chính trị gia cần có con mắt nhìn tốt từ phía công chúng vì danh tiếng xấu có thể gây cho họ mất đi uy tín.

Tương tự đối với các tổ chức, các chính trị gia, các doanh nhân cũng cần được đề cập đến quan hệ công chúng. Bạn phải nhớ rằng hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phụ thuộc vào các khách hàng quen. Nếu bạn có mối quan hệ không tốt với những khách hàng của mình thì điều đó có thể tạo ảnh hưởng tiêu tực tính tiềm năng đối với những quyết định của họ trong việc tiếp tục hợp tác với bạn. Khi bạn kinh doanh, yếu tố đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty là bán hàng. Bán hàng có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực dựa trên một vài đặc điểm. Nó bao gồm danh tiếng của công ty, chất lượng dịch vụ/sản phẩm và mối quan hệ mà bạn thiết lập với khách hàng.

Nếu doanh nghiệp bị mang tiếng xấu, điều đó sẽ ảnh hưởng nhiều đến doanh số bán. Nếu sản phẩm và dịch vụ tồi tệ thì nó cũng ảnh hưởng đến doanh số bán. Nếu bạn thiết lập mối quan hệ không tốt với khách hàng, nó cũng ảnh hưởng tới doanh số bán. Quan hệ công chúng có mối quan hệ lớn trong việc doanh nghiệp sẽ phát triển như thế nào. Điều này giải thích tại sao nhiều công ty lớn phải tuyển những người hiểu rõ về quan hệ công chúng, những người được gọi là quản lý quan hệ công chúng (PR). Công việc của họ là quan tâm đến công chúng, và không gì có thể hơn điều đó.

PR tốt rất cần thiết đối với một doanh nghiệp thành công, đặc biệt khi bạn trở thành một công ty lớn. Cộng đồng kinh doanh là một cộng đồng xã hội vì thế mối quan hệ của bạn với mọi người xung quanh là rất nhiều. PR tồi có thể ảnh hưởng đến danh tiếng của công ty, danh tiếng cá nhân và nguồn vốn tạo lợi nhuận. Các công ty lớn thường tuyển dụng nhân viên PR để xây dựng hình ảnh công ty. Những người được tuyển dụng phải chắc chắn rằng doanh nghiệp đó luôn giữ được hình ảnh tốt với khách hàng và công chúng. Tuy nhiên, việc tuyển dụng người để quản lý quan hệ công chúng nghĩa là bạn phải bỏ ra một số tiền không nhỏ. Nhưng điều đó lại cần thiết nếu bạn có một công ty lớn. Bạn có thể tuyển dụng một người làm PR để quan tâm đến các vấn đề, họ sẽ giúp bạn có nhiều thời gian và làm được nhiều việc quan trọng khác.

Để PR tốt thì bạn cũng tiêu tốn khá nhiều tiền. Vì thế bạn phải chắc chắn rằng bạn bán những sản phẩm/ dịch vụ tốt cùng với đó là các nhân viên phải ứng xử tốt với khách hàng. PR tồi thường nảy sinh từ những tình huống không tốt liên quan đến bạn và công ty vì thế hãy chắc chắn bạn giữ hình ảnh của mình cũng như của công ty...

Quan hệ công chúng (PR) là một chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì sự truyền thông 2 chiều, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức và “công chúng” của họ. …Quan hệ công chúng bao gồm sự quản lý những vấn đề hay sự kiện ma tổ chức cần phải nắm được dư luận của quần chúng và có trách nhiệm thông tin cho họ.

Hơn thế nữa PR còn là một trong những công cụ hỗ trợ bán hàng hữu hiệu đối với tất cả các Doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân. Những người muốn tạo ra một tầm ảnh hưởng nhất định của mình đối với những đối tượng nhất định. Tuỳ vào mục đích của mình và đối tượng mà mình muốn tác động, các tổ chức hoặc cá nhân này sẽ có những cách thức và hình thức tiếp cận khác nhau: có thể tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội như các hoạt động từ thiện, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng do các tổ chức hoạt động nhằm mục đích xã hội tổ chức nhằm tạo ra hình ảnh một tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm với công đồng; hoặc cũng có thể tham gia dưới hình thức một nhà tài trợ mạnh tay luôn thấy xuất hình ảnh trong các chương trình có quy mô lớn như các cuộc thi Hoa hậu, các Hội chợ triển lãm tầm cỡ... Tất cả những hình thức đó nhằm tạo ra một hình ảnh đẹp, nổi bất và rộng khắp về bản thân tổ chức hoặc cá nhân với mong muốn thông qua những hình ảnh được đánh bóng đó, công chúng sẽ trở nên gần gũi và dành nhiều thiện cảm, quan tâm hơn tới họ.

Nghiên cứu tâm lý để hiểu rõ khách hàng

0 nhận xét

Nghiên cứu tâm lý để hiểu rõ khách hàng

Anthony Tjan - Nguyễn Tuyến dịch

Harvard Business Publishing,Tuần Việt Nam


Ngay từ khi được thiết kế, những nghiên cứu về khách hàng đã có xu hướng định kiến về nhân khẩu học. Nhưng đã đến lúc chúng ta cần phải tìm hiểu về khách hàng trên một khía cạnh khác: Đó là tâm lý.

Khi xét đến hành vi mua bán rõ ràng là tính cách rất quan trọng. Vậy thì đâu là lý do tại sao chúng ta thường xuyên nhìn vào việc sử dụng các trang web hoặc các thông tin khách hàng một cách chi tiết theo khung, mẫu về nhân khẩu học như tuổi tác và giới tính? Mặc dù có ích nhưng những đặc điểm đó không mô tả được xu hướng thái độ của khách hàng. Những điều này có thể còn quan trọng hơn và cần phải là một phần bổ sung quan trọng cho những thông tin dữ liệu khác.

Tâm lý học là những luận điểm thông tin mô tả giá trị, ý kiến và lối sống của người sử dụng. Nghĩ đến những đặc điểm về tâm lý học như một loại dữ liệu mà một nhà tâm lý hoặc một nhà nhân loại học sử dụng để mô tả sơ lược một ai đó như một nguồn thông tin đối ngược với những dữ liệu về mặt nhân khẩu học mà một nhà nghiên cứu thống kê muốn thu thập.

Hoặc xem xét đến những thông tin bạn có thể muốn thu thập cho những ngày nhất định. Nhân khẩu học có thể có ích trong việc giới hạn hẹp lại phạm vi nghiên cứu, ví dụ như những người đàn ông 30 tuổi tại Chicago nhưng liệu như thế đã đủ chưa? Để chọn được bạn đời, bạn còn muốn xem xét tính cách, sở thích và những giá trị đối với người đó. Tương tự, với những khách hàng yêu thích sản phẩm hoặc thương hiệu của công ty bạn, bạn cần hiểu tính cách và đam mê của họ và xét xem những điều đó có liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của bạn như thế nào.

Với những khách hàng yêu thích sản phẩm hoặc thương hiệu của công ty bạn, bạn cần hiểu tính cách và đam mê của họ và xét xem những điều đó có liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của bạn như thế nào. Ảnh: saophuongbac.com

Vì không hề có một bản mô tả sơ lược tâm lý tiêu chuẩn nào, chúng ta có thể sử dụng một số ý tưởng trên khía cạnh tâm lý. Môt bản mô tả sơ lược tâm lý cho chúng ta biết về việc làm thế nào một người tương tác với thế giới (họ hướng nội hay hướng ngoại, có xu hướng thiên về phân tích hay tình cảm) và họ coi trọng điều gì nhất (Sự an toàn? Gia đình? Môi trường?).

Bạn có thể kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu “cổ điển” với những câu hỏi dựa trên tính cách cá nhân hoặc có tính hỗ trợ, kết hợp. Ví dụ, hãy hỏi câu: nếu bạn (hoặc sản phẩm, dịch vụ này) là một chiếc ôtô, thì nó sẽ là loại ôtô như thế nào? Một chiếc Mini, một chiếc Mercedes, một chiếc Range Rover hay một chiếc Prius? Mỗi một trong số những chiếc ôtô kể trên bao hàm những tính cách khác nhau và bạn có thể sử dụng những câu trả lời để suy luận ra những đặc tính cá tính, nhân cách mong muốn.

Trong thế giới tiền công nghệ kĩ thuật số, việc thu thập đầy đủ thông tin để tạo ra một bản sơ lược mô tả tâm lý thường đòi hỏi tiến hành nhân loại học khách hàng một cách tốn kém. Hãy tưởng tượng các nhà nghiên cứu quan sát và theo dõi khách hàng khi họ tương tác với sản phẩm. Tuy nhiên, giờ đây, khi khách hàng sử dụng ngày càng nhiều thời gian online, việc nghiên cứu khách hàng trực tuyến trở nên khả thi hơn vì những thông tin dữ liệu về khách hàng có thể được thu thập và phân tích một cách tốt hơn và rẻ hơn.

Gắn máy quay tại các gian hàng cũng có thể giúp đem lại nhiều hiểu biết. Các nhà nhân loại học và những nhà nghiên cứu khách hàng thuộc Paco Underhill đã quay hàng nghìn giờ video tại các gian hàng bán lẻ. Một khám phá được đưa ra là: khách hàng mua ít hơn khi tay họ đã cầm đầy đồ; các giỏ mua hàng tại giữa gian hàng có thể giúp tăng doanh số bán hàng. Trong một nghiên cứu khách hàng có quy mô lớn mà tôi từng đảm nhận, chúng tôi phát hiện ra rằng những bà mẹ mới sinh con đặc biệt hay mua tã lót và máy quay - đặt hai mặt hàng này tại những quầy hàng ở gần nhau giúp thúc đẩy doanh số bán hàng đa sản phẩm.

Vậy, làm thế nào bạn có thể sử dụng những dữ liệu tâm lý? Giả sử bạn muốn quảng bá một sản phẩm ngũ cốc giàu dinh dưỡng mới. Không có nhóm khách hàng phân theo nhân khẩu học rõ ràng nhưng lại có nhóm khách hàng phân loại theo tâm lý rõ ràng cho sản phẩm này. Bạn có thể hướng tới bất cứ ai thích những sản phẩm thuộc thương hiệu của Whole Foods và Eastern Mountain Sports, thể hiện sự quan tâm đến sức khoẻ và sự cân đối, và quan tâm đến môi trường.

Bạn cũng có thể sử dụng những thông tin tâm lý để biết bạn làm thế nào để quảng bá sản phẩm đó tới một nhóm khách hàng cụ thể. Bạn cũng có thể giới thiệu sản phẩm tới nhóm khách hàng “có xu hướng thích phân tích và nghiên cứu” bằng việc đề cập đến công thức độc đáo của loại ngũ cốc trong khi bạn cũng có thể liên hệ đến những trường hợp nghiên cứu và sự chứng thực khi giới thiệu sản phẩm đó tới những khách hàng coi trọng ý kiến của các chuyên gia.

Sau đó, nhiệm vụ tiếp theo là các công cụ cảm xúc và các biện pháp đánh giá khách hàng trực tuyến là phải bắt đầu hiểu được khách hàng theo trục tâm lý. Dưới đây là một vài cách để thực hiện điều này.

Đầu tiên, thành viên của nhóm khách hàng đánh giá kênh người sử dụng của công ty có thể hoàn thành một bản nghiên cứu điều tra về tâm lý: ba thương hiệu yêu thích của họ là gì? Họ thích loại xe hơi nào? Vào tối thứ Sáu, họ sẽ ở tại nhà và xem phim hay là đi ra ngoài?

Cách thứ hai để hiểu được người sử dụng của bạn làm gì trước và sau khi họ sử dụng sản phẩm của công ty bạn và mô tả sơ lược nội dung và nhóm khách hàng này. Trong bản nghiên cứu của tôi về chiến lược khách hàng, chúng tôi đã thảo luận nhiều đến một kĩ năng sử dụng tại Thomson Reuters được gọi là quy tắc 3 phút, chúng tôi quan sát những người sử dụng làm gì 3 phút trước và sau mỗi lần tương tác với sản phẩm.

Cuối cùng, cái gọi là dịch vụ “kí giao kèo đơn” sẽ giúp liên kết hành vi người sử dụng ở những mảng khác nhau dễ dàng hơn. Google, Microsoft và Yahoo đều tham gia vào những dự án OpenID, và Facebook cũng có một khoảng giao diện cạnh tranh gọi là Connect cho phép người sử dụng đăng nhập vào các địa chỉ với một tài khoản sử dụng. Một cơ sở dữ liệu trung tâm có thể chứa đựng mọi thứ từ những lời bình luận trên các trang blog và những sự tự mô tả cá nhân trên các địa chỉ mạng lưới xã hội để mua bán dự liệu và nghiên cứu lịch sử.

Tâm lý học cho phép chúng ta hiểu được khách hàng hiện thời và tiềm năng trên khía cạnh niềm tin và giá trị thúc đẩy hành vi mua bán của họ. Trong thế giới công nghệ kĩ thuật số giúp ta dễ dàng đánh giá hơn, tâm lý học sẽ ngày càng giúp gia tăng sự hiểu biết về khách hàng.